Bắc Hưng Hải – Từ đại thủy nông trù phú đến dòng sông ô nhiễm

Hệ thống Bắc Hưng Hải từng là biểu tượng thủy lợi, nhưng sau gần 70 năm, dòng kênh đối mặt thực trạng ô nhiễm nghiêm trọng, làm thay đổi đời sống hàng triệu người.

Từ vùng đất “mười năm chín hạn” đến kỳ vọng đổi đời

Đầu tháng 4/2026, đứng bên một nhánh kênh tại phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử (85 tuổi) chứng kiến dòng nước đen đặc, cá chết nổi lềnh bềnh, ruồi nhặng bu kín. Hình ảnh này trái ngược hoàn toàn với ký ức về một dòng nước từng nuôi sống cả vùng.

Những năm 1940-1950, khu vực Bắc Hưng Hải vốn là vùng trũng rộng lớn, bao gồm phần lớn Hải Dương, Hưng Yên, cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh. Địa hình thấp khiến nơi đây thường xuyên rơi vào tình trạng hạn hán hoặc ngập úng kéo dài.

Người dân truyền tai nhau câu “mười năm chín hạn” để nói về sự bấp bênh của sản xuất nông nghiệp. Ruộng đồng phụ thuộc vào nước mưa, khi khô hạn thì nứt nẻ, khi mưa lớn lại ngập úng, khiến mùa màng thất bát.

Nguồn nước sinh hoạt cũng không đảm bảo. Nhiều ao làng có nước chua, gây bệnh ngoài da. Cuộc sống khó khăn kéo dài, cái đói trở thành nỗi ám ảnh thường trực với người dân trong vùng.

Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc một thời

Sau năm 1954, nhu cầu khôi phục kinh tế và phát triển nông nghiệp khiến việc xây dựng hệ thống thủy lợi trở nên cấp thiết. Năm 1956, Chính phủ quyết định triển khai công trình Bắc Hưng Hải nhằm dẫn nước từ sông Hồng vào đồng ruộng.

Ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về động viên người dân tham gia xây dựng công trình, nhấn mạnh ý nghĩa lâu dài đối với đời sống và sản xuất.

Công trình chính thức khởi công ngày 1/10/1958 với sự tham gia của hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và người dân. Nhiều địa phương đã đóng góp lớn, trong đó có việc người dân làng gốm Bát Tràng tự nguyện dỡ nhà để phục vụ thi công tuyến kênh.

Hệ thống được thiết kế với tuyến kênh trục dài hơn 230 km, cùng hàng nghìn km kênh nhánh và gần 1.900 công trình như cống, trạm bơm. Nước được dẫn từ cống Xuân Quan (Hưng Yên) và thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành mạng lưới thủy lợi liên hoàn.

Chỉ sau 7 tháng thi công, công trình hoàn thành, trở thành đại thủy nông lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, đảm bảo tưới tiêu cho hơn 130.000 ha đất canh tác.

Dòng nước màu đen của hệ thống thủy lợi tháng 3/2026. (Ảnh: Chụp màn hình VnExpress).

Thời kỳ vàng son của dòng nước trong xanh

Những năm 1960, nguồn nước dồi dào từ hệ thống Bắc Hưng Hải đã làm thay đổi toàn diện sản xuất nông nghiệp. Nhiều vùng trước đây phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu canh tác hai vụ lúa mỗi năm, năng suất đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng hơn 1,2 triệu tấn. Khu vực này dần trở thành vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.

Nguồn nước sạch cũng thúc đẩy nuôi trồng thủy sản. Người dân ven kênh phát triển nuôi cá lồng, khai thác rươi và nhiều loài thủy sản tự nhiên. Có thời điểm, sản lượng cá và rươi đạt mức rất cao, mang lại nguồn thu ổn định. Theo những người gắn bó lâu năm, nước kênh khi đó trong đến mức có thể nhìn thấy đáy, người dân có thể tắm giặt trực tiếp.

Từ cuối những năm 1990, chất lượng nước trong hệ thống bắt đầu suy giảm. Những đoạn kênh gần khu dân cư và làng nghề xuất hiện nước đục, mùi hôi, sau đó lan rộng ra toàn hệ thống. Đến khoảng năm 2000, tình trạng ô nhiễm trở nên rõ rệt. Người dân phản ánh lượng rác thải, đặc biệt là túi nylon gia tăng đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.

Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Nhiều nguồn thải chưa qua xử lý triệt để, vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy. Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), mỗi ngày hệ thống tiếp nhận hơn 538.000 m3 nước thải từ khu dân cư, làng nghề và khu công nghiệp.

Số liệu cảnh báo mức độ ô nhiễm nghiêm trọng

Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho thấy nhiều chỉ số ô nhiễm tại Bắc Hưng Hải vượt xa quy chuẩn cho phép.

Dòng nước đen kịt, đặc quánh ở cửa trạm bơm Bình Lâu, Hải Phòng. (Ảnh: Chụp màn hình VnExpress).

Tại điểm Xuân Thụy (Hưng Yên), nồng độ amoni đo được là 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần mức cho phép. Tại Bình Lâu (Hải Phòng), con số này khoảng 22 mg/l, vượt hơn 70 lần.

Hàm lượng oxy hòa tan trong nước chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Thực tế tại nhiều tuyến kênh cho thấy nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày, mùi hôi nồng nặc. Hoạt động nuôi cá lồng gần như không thể duy trì do năng suất giảm mạnh.

Sự suy giảm chất lượng nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân ven kênh. Nhiều hộ gia đình từng sống nhờ nuôi trồng thủy sản buộc phải từ bỏ nghề, chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp. Các hoạt động khai thác thủy sản tự nhiên gần như biến mất.

Không chỉ ảnh hưởng kinh tế, môi trường ô nhiễm còn tác động đến sức khỏe và sinh hoạt của người dân trong khu vực. Chứng kiến sự thay đổi của hệ thống Bắc Hưng Hải, nhiều người dân không khỏi tiếc nuối về một thời kỳ dòng nước trong xanh, trù phú. Từ một công trình biểu tượng cho sự đổi đời của nông nghiệp miền Bắc, Bắc Hưng Hải hiện đối mặt với thách thức lớn về môi trường và quản lý nguồn nước.

Mong muốn lớn nhất của người dân là dòng kênh có thể được cải thiện, trở lại trạng thái trong lành như trước, dù điều đó ngày càng trở nên khó khăn trong bối cảnh hiện nay.

Theo: VnExpress