Từ cửa biển Sa Kỳ hàng trăm năm trước, những dân binh Đội Hoàng Sa đã quả cảm dong thuyền ra khơi xa cắm mốc và xác lập chủ quyền. Những câu chuyện về dấu xưa cùng niềm tin tâm linh chính là hành trang để bao thế hệ ngư dân hôm nay vững tâm.,
- Hạ tầng pháp lý địa chỉ nhà: Nền tảng bị lãng quên tại Việt Nam
- Hải Phòng: Án phạt 17 năm tù cho hành vi mạo danh cán bộ để lừa đảo
- Thói quen dùng cà phê: Nên thưởng thức trước hay sau bữa sáng để khỏe mạnh?
Dấu ấn lịch sử và tâm linh nơi cửa biển cổ
Theo các tài liệu lịch sử, tên gọi cửa biển Sa Kỳ đã xuất hiện từ ít nhất 555 năm trước, gắn liền với cột mốc năm 1471 khi vua Lê Thánh Tông mang quân đi mở cõi. Đây là địa danh quan trọng trong việc hình thành các đội dân binh đi giữ đảo, với đội hình 70 người được tuyển chọn từ dân xã An Vinh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Theo thông lệ, cứ đến tháng 3 hằng năm, họ lại lên thuyền ra khơi, mất 3 ngày 3 đêm để đến bãi, thực hiện nhiệm vụ thu lượm hóa vật và đo đạc biển đảo cho đến tháng 8 mới trở về nộp lại.
Sử liệu cũng ghi chép cụ thể về các hoạt động của đội dân binh, như trong sách Đại Nam thực lục tiền biên có đoạn kể về một sự kiện diễn ra vào tháng 7, khi một nhóm gặp gió dạt vào hải phận nhà Thanh và được đưa về sau đó. Đến năm 1776, trong tác phẩm Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến việc thành lập đội hoàng sa tại vùng cửa biển này. Tại Sa Kỳ, sự hiện diện của Đội Hoàng Sa Nhất gồm 10 chiếc thuyền và Đội Hoàng Sa Nhị gồm 8 chiếc tại Lý Sơn đã khẳng định quy mô khai thác và kiểm soát biển đảo từ thời các chúa Nguyễn.
Bên cạnh chính sử, tâm linh cũng đóng vai trò then chốt trong đời sống của những người lính biển năm xưa với các di tích như dinh Bà chúa Ngọc và Vườn Đồn. Trước giờ xuất quân, các binh sĩ thường tổ chức lễ cúng trang nghiêm, khấn nguyện sóng yên biển lặng để chuyến hải trình dài ngày được suôn sẻ. Đặc biệt, câu chuyện về “ông lụy” (cá voi) được rước phần đầu từ Hoàng Sa về thờ phụng tại miếu “ông Hoàng Sa” (nay chuyển về lăng vạn An Vĩnh) vẫn được người dân truyền tụng như một biểu tượng của sự chở che từ biển cả.
Sự tiếp nối mạch nguồn bảo vệ chủ quyền biển đảo
Trải qua hàng trăm năm, ký ức về các đội hùng binh vẫn được lưu giữ sống động thông qua gia phả của các dòng họ lâu đời tại địa phương, tiêu biểu là họ Phạm. Ông Phạm Ngọc Trưng, hậu duệ đời thứ 12 của cụ Phạm Cảnh Tịnh, vẫn luôn nhắc nhở con cháu về tiền nhân Phạm Cảnh Thạch – người từng tham gia Đội hoàng sa dưới thời chúa Nguyễn. Những câu chuyện về việc dong buồm theo gió ra khơi không chỉ là niềm tự hào của dòng tộc mà còn là bài học về lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau tiếp bước.
Tiếp nối truyền thống đó, bản thân ông Trưng cũng đã có 21 năm ròng rã bám biển tại các khu vực đảo Tri Tôn và đảo Bạch Quy để mưu sinh và bảo vệ lãnh hải. Dù gặp không ít hiểm nguy như tàu bị mắc cạn khi nước ròng hay sóng gió muôn trùng, nhưng những mẻ lưới đầy cá đã giúp ông nuôi sống gia đình và đóng góp vào sự phát triển của quê hương. Hình ảnh những ngư dân Lý Sơn hôm nay vươn khơi giữa sóng gió chính là sự tiếp nối tinh thần của cha ông từ hàng thế kỷ trước.
Ngày nay, vùng cửa biển Sa Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hóa gắn liền với lịch sử xác lập chủ quyền, từ các miếu thờ cổ đến những lễ hội truyền thống. Hằng năm, người dân vẫn tổ chức lễ hội đua thuyền tứ linh và các nghi thức cầu mong mưa thuận gió hòa, thể hiện lòng tri ân sâu sắc đến các vị tiền nhân đã có công khai mở,. Những hoạt động này không chỉ là nét đẹp văn hóa mà còn khẳng định sự gắn kết bền chặt giữa con người với biển đảo quê hương.
Nguyễn Mùi (tổng hợp)
