Sau tuổi 50. Thay vì chỉ đi khám khi cảm thấy không khỏe, mỗi người nên chủ động theo dõi các chỉ số cơ bản. Huyết áp, cholesterol máu, đường huyết và chỉ số khối cơ thể giúp cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng sức khỏe.
- Công an xác định vụ bé trai lớp 1 tử vong tại trường ở Hải Phòng
- Nghiệp báo khi phá hoại hôn nhân người khác
- Cao su Đà Nẵng thay Tổng giám đốc sau quyết định khởi tố
Huyết áp
Huyết áp phản ánh áp lực máu lên thành động mạch khi tim co bóp và giãn ra. Chỉ số này được ghi bằng hai con số, ví dụ 120/80 mmHg. Theo Healthline của Mỹ, con số đầu tiên biểu thị huyết áp tâm thu, còn con số thứ hai là huyết áp tâm trương.
Ở người trưởng thành, huyết áp dưới 120/80 mmHg được xem là bình thường. Mức từ 140/90 mmHg trở lên cần được chú ý khi đánh giá nguy cơ tăng huyết áp. Người trên 50 tuổi nên kiểm tra huyết áp định kỳ tại nhà thuốc, phòng khám tư, trạm y tế hoặc bệnh viện. Việc theo dõi giúp nhận ra những thay đổi cần được đánh giá thêm, kể cả khi chưa có triệu chứng.
Cholesterol máu
Cholesterol là chất béo cần thiết cho các hoạt động của cơ thể. Tuy nhiên, khi nồng độ cholesterol trong máu quá cao, nguy cơ mắc bệnh tim mạch có thể tăng. Theo bác sĩ tim mạch Steven Nissen tại Cleveland Clinic ở Mỹ, tình trạng này thường không gây triệu chứng dễ nhận biết, nên xét nghiệm là cách quan trọng để phát hiện.
Ở người trưởng thành, cholesterol toàn phần dưới 200 mg/dL thường được xem là mức khỏe mạnh. Người khỏe mạnh có thể xét nghiệm mỗi năm 4-6 lần. Tuy nhiên, người mắc tiểu đường, có bệnh tim mạch, có tiền sử gia đình cholesterol cao hoặc đang điều trị rối loạn mỡ máu có thể cần kiểm tra thường xuyên hơn theo tư vấn y tế.
Đường huyết
Đường huyết cho biết lượng glucose trong máu. Khi cơ thể không sản xuất đủ insulin hoặc bị kháng insulin, lượng đường có thể tăng cao kéo dài. Tình trạng này làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường nếu không được kiểm soát.
Xét nghiệm đường huyết định kỳ giúp nhận biết những dấu hiệu bất thường. Đối với người sau tuổi 50, việc kết hợp kiểm tra sức khỏe với chế độ ăn uống lành mạnh, tập luyện thường xuyên, hạn chế đồ uống có đường và kiểm soát cân nặng là cần thiết để giảm nguy cơ mắc bệnh. Người có nguy cơ cao nên trao đổi với bác sĩ để lựa chọn thời điểm xét nghiệm phù hợp.
BMI là chỉ số được tính từ cân nặng và chiều cao, giúp đánh giá một người có thể đang thiếu cân, thừa cân hay béo phì. Công thức tính lấy cân nặng tính bằng kilôgam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét. Ví dụ, người nặng 70 kg và cao 1,70 m có BMI khoảng 24,2.
Chỉ số khối cơ thể
Ở người trưởng thành, BMI dưới 18,5 là thiếu cân; từ 18,5 đến dưới 25 là bình thường; từ 25 đến dưới 30 là thừa cân; từ 30 trở lên là béo phì. BMI cao có thể đi kèm nguy cơ tiểu đường loại 2, huyết áp cao và cholesterol cao.
Dù vậy, BMI không phân biệt khối lượng cơ với khối lượng mỡ. Người có nhiều cơ bắp có thể có chỉ số cao dù không thừa mỡ, trong khi người có BMI bình thường vẫn có thể tích tụ mỡ bụng. Vì vậy, cần kết hợp BMI với những đánh giá sức khỏe khác để hiểu rõ hơn về thể trạng.
Thành Luân (tổng hợp)
