Khi nào ta không còn cần khóa cửa, then cài?

Nếu rời nhà mà quên khóa cửa, điều gì khiến bạn lập tức phải quay lại? Một món đồ giá trị, hay thực chất là vì ta đã mất đi năng lực tin vào sự thiện lương của thế gian?

Khi thói quen hiển nhiên lại là nghịch lý

Những năm 2000, ở vùng quê nghèo, cha mẹ lam lũ ngày công xây dựng tính bằng nghìn đồng. Nhà hàng xóm còn chẳng có cổng, hàng rào chỉ đơn thuần là dãy cây bụi ngăn cách. Có khi qua nhà hàng xóm có cả chục hướng. Thời đó ổ khóa cửa nhà chỉ là chiếc khóa việt tiệp phổ thông, mỗi nhà có 1 chiếc, cũng không chắc thực sự cần khóa nếu không phải đi xa hoặc vắng nhà lâu ngày. Dần dà mọi thứ đổi thay, hàng rào gạch cao, cửa sắt, khóa cửa cài then như một lẽ tất yếu để phòng lại những mất mát hư hao.

Nhưng gần đây trong chuyến đi du lịch vào mùa đông tại Ninh Bình, tôi lại chợt nhận ra rằng chúng ta đã mất mát quá nhiều.

Do không phải mùa du lịch nên cả homestay chỉ có phòng tôi. Chúng tôi có thuê chiếc xe máy để di chuyển. Tối muộn về không thấy chủ homestay. Tôi cũng không quen dắt xe lạ lên sân cao, nên đành để xe ở chỗ giao xe khi sáng. 11h đêm cũng chẳng thấy ai về, home cũng không khóa cửa, xe vẫn để khu đất trống cạnh bên. Tôi thấp thỏm không yên:

Sao chủ mãi không về?
Xe cộ, cửa giả để hớ hênh như này sao?

 Suy nghĩ đó lởn vởn cả buổi, cho đến khi sáng sau chúng tôi trò chuyện với chủ homestay mới nhận được câu trả lời “ Ở đây vẫn thế”. Chúng tôi đều ngạc nhiên — hóa ra điều hiển nhiên lại trở thành lạ lùng.

Chúng ta có nhiều hơn, nhưng cũng chật chội hơn

Sự mộc mạc bình yên thời nghèo khó lại trở thành điều xa xỉ khi chúng ta đủ đầy. Người ta cười nói vì ngày xưa nghèo, có gì để mà sợ mất. Cũng đúng. Ngày xưa, nếu không phải trộm củ khoai, quả bưởi để giải nỗi đói khát của đám trẻ thì cũng thi thoảng vẫn nghe được câu nhà này mất cái này, nhà kia mất cái kia. Thời nào cũng vẫn có những thứ không chắc chắn, nhưng có lẽ tâm lý phòng bị này đã lớn đến mức khóa cửa nhiều lớp, các thiết bị trống trộm chiếm lĩnh thị trường, rồi cả thói quen không giữ nhiều tiền mặt trong nhà… Lúc nào cũng trong trạng thái “phòng”.

Chúng ta giàu có về vật chất, đó là hiển nhiên. Những thứ cầm nắm được nhiều rồi, hóa ra lại là xiềng xích cho tâm hồn. Người có nhiều sợ mất, người không có nhiều lại sợ ít, sợ chẳng đủ. Có người còn khao khát và tước đoạt những thứ chẳng thuộc về mình. Chúng ta nghe về kẻ cướp này, người xấu nọ nhiều đến mức người nghe chỉ biết thở dài, hoặc nghe đến mức nhàm chán. Đôi khi, thay vì chỉ trích kẻ cắp, người ta quay ra đổ lỗi cho người bị mất: “ Bởi vì hớ hênh, bởi vì phô trương, bởi vì bất cẩn… mà thế”. Nạn nhân từ bao giờ trở thành nguyên nhân?

Chỉ là khóa cửa hay là phong bế – Vì đâu đến nỗi ?

Chẳng ai có thể nói ra được một mốc thời gian cụ thể. Mới chỉ hơn 20 năm. Nhưng, một cách chậm rãi, nỗi sợ, sự phòng bị ngày càng lớn dần, ăn mòn cả sự đơn thuần ngày nào. Nó đâu chỉ dừng ở ổ khóa , nó còn trở thành thứ vây hãm giữa người với người.

Khóa
Khóa cửa thêm chắc cũng là khóa cả những khoảng mở của tâm hồn. (Ảnh: Báo Hải Phòng Mới)

Chúng ta sợ mình hơn một chút thì bị kẻ bất lương chú ý, tài giỏi hơn chút thì người khác nghi kị, dèm pha. Nỗi sợ vật chất lại là sự thể hiện bề mặt của nỗi sợ người với người ở tận sâu thẳm tâm can.

Người xưa vẫn nói tốt xấu là hai mặt của vấn đề. Chúng ta đang hướng đến tiện nghi, đủ đầy. Ở góc độ nào đó thì nó thật tốt, nhưng nếu lật ngược lại thì có phải tinh thần chúng ta đang ngày càng trở nên khô kiệt, ngày càng phong bế với bên ngoài.

Tiền nhân không để lại cho ta ổ khóa.

“Đạo bất thập di”: Đồ rơi ngoài đường không ai nhặt lấy làm của riêng.

“Dạ bất bế hộ”: Đêm ngủ không cần đóng cửa vì không có trộm cướp, gian tà.

“Phong điều vũ thuận”: Mưa thuận gió hòa, nhân tâm thuần hậu, mọi người nhường nhịn lẫn nhau.

Tưởng chừng những điều này là xã hội không tưởng, nhưng điều trên chính là tương truyền lại thời thái bình thịnh trị của vua Nghiêu và vua Thuấn — hai vị thánh quân đứng đầu trong “Ngũ Đế” của lịch sử Hoa Hạ cổ đại. Nơi giá trị phổ quát không đo bằng hơn thua vật chất, mà bắt đầu và lan tỏa bởi lòng nhân. Chẳng phải đó đều là khao khát từ trong mỗi con người.

Chúng ta có thể tìm được sự thái bình trong tâm không?

 Hàn Phi Tử – nhà tư tưởng “ pháp trị” thời Chiến Quốc từng đưa ra lời bình:

 “Vua Nghiêu trị vì thiên hạ, nhà tranh không cắt, xà nhà không bào, ăn cơm gạo lứt, uống canh rau cám, mặc áo vải thô… Cái cảnh khổ hạnh đó, ngay cả kẻ canh cửa thời nay cũng còn sướng hơn.”

Sự khắc kỷ, lấy thân làm gương của Nghiêu đế trở thành minh chứng cho việc càng ở cao con người lại càng cần nghiêm khắc làm gương cho người dưới. An quốc là khi người cầm quyền công minh, thấu hết nỗi khổ của muôn dân mới có thể tròn vai kẻ phụng sự. Tề gia bắt đầu từ sự tu dưỡng của trưởng bối, hậu bối ắt lấy đó noi theo mà hàng ngày thu liễm. Gia trung mà loạn thì chẳng trách bên ngoài có tặc. Thái bình của thiên hạ hay thái bình trong tâm, suy cho cùng, đều bắt đầu từ một gia đạo an hòa.