Gần 600 loại sữa bột giả và vụ kẹo Kera cùng được nhắc đến tại nghị trường, đặt ra câu hỏi về hiệu quả giám sát an toàn thực phẩm. Khi sản phẩm đã được công bố nhưng vẫn có thể vi phạm, bài toán quản lý không dừng ở khâu cấp phép.
- Hải Phòng đối mặt áp lực ô nhiễm từ nhiều nguồn nước
- 400 tấn heo bệnh đặt ra yêu cầu rà soát chuỗi kiểm soát thực phẩm
- Vụ học sinh đánh cô giáo: Trách nhiệm không thể xem nhẹ
Chiều 24/10, thảo luận tại tổ về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đại biểu Quốc hội Nguyễn Thu Xanh (đoàn TP.Hải Phòng) dẫn vụ gần 600 loại sữa bột giả do Công ty Rance Pharma và Hacofood Group sản xuất, tiêu thụ công khai trong suốt 4 năm.
Đáng lo ngại, những sản phẩm này được hướng đến các nhóm cần được bảo vệ đặc biệt, gồm phụ nữ mang thai, trẻ sinh non và người mắc bệnh tiểu đường, suy thận. Khi thực phẩm phục vụ nhu cầu dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe trở thành hàng giả, rủi ro không chỉ nằm ở giá trị hàng hóa mà còn trực tiếp liên quan đến sức khỏe người sử dụng.
Theo bà Xanh, vụ việc cho thấy cơ chế tự công bố sản phẩm theo Nghị định 15/2018 có thể bị lợi dụng, trong khi công tác hậu kiểm chưa theo kịp diễn biến trên thị trường. Bà đề nghị xây dựng kế hoạch lấy mẫu định kỳ theo nhóm nguy cơ, tăng kiểm tra đột xuất khi xuất hiện cảnh báo và giám sát chặt hơn những cơ sở có dấu hiệu vi phạm hoặc tái phạm.

Vụ kẹo Kera lại đặt ra vấn đề ở một khâu khác: quảng cáo và trách nhiệm của những người tham gia đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Theo đại biểu Xanh, việc người nổi tiếng quảng bá công dụng thực phẩm vượt quá thực tế cho thấy cần làm rõ trách nhiệm của người quảng cáo, người có ảnh hưởng và các nền tảng thương mại điện tử.
Từ kiểm soát hồ sơ công bố đến giám sát nội dung quảng cáo, yêu cầu đặt ra là phải có khả năng phát hiện sớm, truy xuất thông tin và xử lý kịp thời. Đại biểu đề xuất lưu vết người bán, nội dung quảng cáo, đồng thời tạm ẩn hoặc gỡ bỏ thông tin khi có căn cứ vi phạm.
Ở góc độ thực thi, đại biểu Phạm Khánh Phong Lan (đoàn TP.HCM) cho rằng điểm yếu đáng chú ý nằm ở khâu hậu kiểm. Bà nhận định nhiều sản phẩm đã hoàn tất thủ tục công bố nhưng quá trình sản xuất không đúng cam kết; việc thuê gia công tại những cơ sở không bảo đảm chất lượng có thể dẫn đến tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng lưu hành.
Theo bà Lan, tăng cường hậu kiểm cần đi cùng việc xem xét lại thủ tục tiền kiểm, tránh tạo thêm gánh nặng hành chính mà chưa chắc cải thiện được chất lượng sản phẩm. Bà dẫn thực tế TP.HCM có hơn 300.000 sản phẩm tự công bố và cảnh báo khó khăn nếu toàn bộ phải thực hiện lại thủ tục theo cơ chế mới.
Đại biểu đề nghị cân nhắc lộ trình chuyển đổi, trong đó việc công bố lại nên gắn với những thay đổi về thành phần sản phẩm.
Từ hai vụ việc được nêu tại nghị trường, vấn đề không chỉ là bổ sung thủ tục hay tăng số lần kiểm tra. Thách thức lớn hơn là bảo đảm sản phẩm được sản xuất đúng hồ sơ đã công bố, quảng cáo đúng sự thật và vi phạm được phát hiện trước khi gây hậu quả. Hiệu quả của luật sửa đổi vì thế sẽ phụ thuộc đáng kể vào khả năng giám sát thực chất và trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm.
Đào Chương (tổng hợp)
