Ngân hàng cũng “đau đầu” vì tiền?

Áp lực thanh khoản ngân hàng gia tăng cuối năm khiến Ngân hàng Nhà nước phải đẩy mạnh hỗ trợ vốn qua OMO nhằm ổn định hệ thống trước nhu cầu tín dụng và biến động tỷ giá.

Xe tải bốc cháy sau va chạm lan hàng chục xe máy điện

Bão số 16 có thể đổi hướng bất ngờ – Nam Trung Bộ đứng trước nguy cơ mưa cực lớn kéo dài

Bé sơ sinh bị bỏ rơi trong đêm lạnh

Lãi suất liên ngân hàng leo thang

Phiên 1/12, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng vọt lên 7%/năm. Ghi nhận cho thấy lãi suất chào bình quân VND liên ngân hàng đã tăng liên tục từ đầu tháng 10 đến gần cuối tháng 11. Việc lãi suất qua đêm duy trì mức cao phản ánh áp lực thanh khoản đang lan rộng trong toàn hệ thống.

Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng cường hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Ở kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá (OMO), lượng vốn lưu hành đạt 342.642 tỷ đồng – mức hỗ trợ thuộc nhóm cao nhất từng ghi nhận. Từ đầu năm đến nay, NHNN liên tục bơm ròng tiền đồng, đặc biệt mạnh từ cuối tháng 6. Đáng chú ý, cơ quan điều hành đã triển khai kỳ hạn OMO 105 ngày – dài hơn mức 7–91 ngày trước đây nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của hệ thống.

Dù lượng vốn hỗ trợ lớn, TS Châu Đình Linh (Đại học Ngân hàng TPHCM) nhận định các ngân hàng thương mại chưa phụ thuộc vào nguồn vốn NHNN. Theo ông, NHNN chỉ điều tiết cung – cầu vốn, thực hiện “bơm – hút” tiền để duy trì thị trường ổn định. Ông đánh giá áp lực hiện chưa đủ lớn để phải dùng mạnh đến nghiệp vụ tái chiết khấu giấy tờ có giá.

Chênh lệch tăng trưởng tín dụng

Theo các chuyên gia, cuối năm thường là thời điểm căng thẳng về vốn, nhưng năm nay mức độ áp lực cao hơn đáng kể. TS Châu Đình Linh cho biết chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi tiếp tục giãn rộng, khiến nhiều ngân hàng phải nâng lãi suất huy động. Một số tổ chức tín dụng đã đẩy lãi suất lên mức 9%/năm cho khoản tiền gửi lớn để thu hút dòng tiền.

Bên cạnh đó, tiền gửi ngân hàng chịu cạnh tranh gay gắt từ vàng, bạc, chứng khoán và làn sóng IPO, làm giảm tốc độ tăng trưởng nguồn vốn. Áp lực giải ngân đầu tư công cũng gia tăng, không chỉ đối với nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước mà còn lan sang khối ngân hàng thương mại cổ phần, buộc các đơn vị phải bảo đảm năng lực cung ứng vốn ngắn hạn.

Tỷ giá tiếp tục là yếu tố gây sức ép khi biến động khiến chi phí vốn gia tăng. TS Linh nhận định mức độ căng thẳng đã kéo dài và không còn mang tính thời điểm. Trong khi đó, TS Nguyễn Trí Hiếu cho biết chênh lệch giữa vốn huy động và nhu cầu tín dụng lên tới 3%. Tăng trưởng tín dụng tháng 10 đạt 15% và có thể lên mức 18–20% vào cuối năm, vượt mục tiêu 16% NHNN đặt ra. Lãi suất qua đêm tăng lên 7% cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn đang ở mức rất lớn.

Áp lực thanh khoản ngân hàng tiếp tục kéo dài trên toàn hệ thống

Một yếu tố đáng chú ý khác, theo TS Nguyễn Trí Hiếu, là nợ xấu. Ông cho biết nợ xấu tồn đọng từ giai đoạn Covid-19 vẫn chưa được xử lý triệt để, trong khi nợ xấu mới xuất hiện do môi trường kinh tế còn nhiều khó khăn. Thống kê mỗi tháng có hàng chục nghìn doanh nghiệp rời thị trường cho thấy sức khỏe nền kinh tế vẫn yếu, khiến rủi ro tín dụng gia tăng và tạo thêm áp lực lên thanh khoản ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, các NHTM buộc phải đẩy mạnh huy động nhằm bảo đảm tăng trưởng tiền gửi theo kịp nhu cầu tín dụng. Thanh khoản được dự báo sẽ tiếp tục căng thẳng trong thời gian tới khi nhu cầu vốn cho sản xuất – tiêu dùng bước vào mùa cao điểm cuối năm. Theo các chuyên gia, hệ thống ngân hàng cần tiếp tục chú trọng quản trị rủi ro, chủ động kiểm soát chất lượng tín dụng và duy trì cấu trúc vốn an toàn để giảm bớt sức ép thanh khoản kéo dài.

Theo: Dân Trí