Nha Xá, Ninh Bình – Anh Trần Văn Huy cùng gia đình đầu tư hệ thống máy dệt công suất cao, giúp xưởng giảm lao động trực tiếp và nâng năng suất gần gấp 3 lần.
- Đà Nẵng xử lý 8 cán bộ liên quan vụ nhận hối lộ
- Hai đối tượng bị bắt trong vụ án mua bán, tàng trữ ma túy
- Chủ tịch Tập Cận Bình đến Mỹ, ông Trump chuẩn bị cuộc gặp thượng đỉnh
Anh Huy, 27 tuổi, trở về quê sau gần 3 năm làm kỹ sư thiết kế cơ khí tại Nhật Bản và cùng gia đình nâng cấp xưởng dệt. Sau một năm đưa 12 máy mới vào sản xuất, xưởng đã thu hồi gần một nửa số vốn đầu tư cho đợt chuyển đổi.
Từ năm lớp 10, anh Trần Văn Huy đã quen với tiếng máy dệt trong xưởng gia đình, khi cơ sở vẫn sử dụng những khung gỗ và máy móc đơn giản. Sau khi học ngành cơ khí, anh đi làm rồi sang Nhật Bản năm 2021 theo diện kỹ sư, tiếp tục công việc thiết kế cơ khí.
Gần 3 năm ở Nhật, anh nhận thấy thu nhập sau khi quy đổi không còn như kỳ vọng do đồng Yên giảm giá. Nghĩ đến cha mẹ ở quê ngày một lớn tuổi, anh quyết định trở về cùng gia đình vận hành xưởng dệt.
Sự trở về của anh cũng khiến gia đình quyết định đầu tư mạnh hơn cho cơ sở sản xuất. “Vì tôi về nhà nên bố mẹ mới đầu tư thế này. Để hai ông bà làm ăn túc tắc thì cũng không cần đầu tư máy móc, nợ nần làm gì cho mệt mình”, anh Huy nói.
Có kiến thức cơ khí, anh Huy đảm nhận việc theo dõi, bảo dưỡng và xử lý các vấn đề phát sinh từ máy dệt, máy quay tơ. Những kiến thức từng được học và sử dụng ở nước ngoài vì thế được anh áp dụng vào công việc tại quê nhà.
Quyết định đầu tư được đưa ra sau một giai đoạn không dễ dàng. Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, gia đình phải cầm cự 3 năm giữa lúc thị trường đóng băng, vừa duy trì sản xuất vừa xoay xở các khoản vay ngân hàng.
“Hàng dệt ra gần như không bán được, xưởng chỉ duy trì sản xuất cầm chừng, cố bán được hàng để trả công thợ. Hàng tồn kho hơn 3000 cuộn vải, gia đình phải tận dụng cả phòng ngủ làm kho hàng mới đủ chỗ chứa”, anh Huy nhớ lại.
Năm 2024, khi thị trường khởi sắc trở lại, lượng hàng tồn được giải phóng trong khoảng một tháng. Xưởng từ đó tiếp tục tái sản xuất và chuyển sang đầu tư các máy dệt có công suất cao hơn.

Tổng chi phí mua máy, lắp đặt và cải tạo xưởng khoảng 8 tỷ đồng, trong đó một nửa là vốn vay. Gia đình không đầu tư toàn bộ cùng lúc mà nâng cấp từng đôi máy, mất một năm để hoàn thiện và phải thế chấp tài sản nhằm có thêm nguồn lực.
Mỗi máy dệt mới có giá khoảng 450-500 triệu đồng. Trước khi đầu tư, gia đình phải tính khả năng máy thích nghi với nguyên liệu, mặt hàng và thị trường; quá trình chuyển đổi cũng trải qua những lần thử nghiệm, thất bại rồi điều chỉnh.
“Gần chục năm nay, sổ đỏ nhà tôi gần như thường trực ở ngân hàng. Vay để lên đời máy móc, vay mua nguyên liệu hay vay xoay vòng sản xuất là điều quá bình thường với những hộ làm kinh doanh thế này”, anh Huy chia sẻ.
Sau một năm kể từ khi 12 máy dệt mới đi vào hoạt động, xưởng đã thu hồi gần một nửa số vốn dành cho lần đầu tư này.
Ba người vận hành 12 máy, sức lao động được giải phóng
Trước đây, 18 máy dệt cũ cần khoảng 6 người vận hành trong cùng diện tích xưởng. Anh Huy cũng phải thường xuyên có mặt để kiểm tra và xử lý những sự cố do máy hoặc tình trạng đứt tơ.
Với 12 máy mới, thiết bị có thể chạy 12-14 giờ mỗi ngày với công suất cao hơn, còn lao động trực tiếp giảm xuống 3 người làm việc thay ca. “Dùng máy cũ, một thợ lành nghề mới trông được 4 máy 1 khổ. Còn với máy hiện nay, một thợ có thể nhàn nhã phụ trách 6 máy 2 khổ. Năng suất nhờ đó tăng gần gấp 3 lần so với trước đây”, anh Huy chia sẻ.
Dòng máy mới có thể vận hành đồng thời 2 khổ dệt. Mỗi khổ cho ra khoảng 70m vải trong 2 ngày; với 12 máy cùng hoạt động và giá bán 50.000-70.000 đồng/mét, xưởng có thể đạt doanh thu khoảng 1,2 tỷ đồng mỗi tháng.

Những con số này cũng phản ánh sự thay đổi trong cách bố trí lao động. Khi mỗi người thợ có thể phụ trách nhiều máy hơn, một phần công việc thủ công và chi phí vận hành được giảm xuống.
Một dàn cửi mới có khoảng 12.600 sợi tơ. So với máy cũ thường xảy ra tình trạng đứt sợi khiến người thợ phải dừng máy để nối, thiết bị mới vận hành ổn định hơn và giảm đáng kể số lần gián đoạn.
Công đoạn quay tơ vốn tiêu tốn nhiều thời gian và sức lực nay được hỗ trợ bằng mô-tơ điện. Các họa tiết như hoa sen, hoa đào, hoa mai cũng có thể được thiết kế, chỉnh sửa trên phần mềm rồi chuyển thành dữ liệu để máy dệt thực hiện.
Dù vậy, anh Huy cho biết phần lớn dây chuyền vẫn cần người tham gia. Khi máy móc đảm nhận phần việc thủ công, kinh nghiệm của người thợ chuyển sang khả năng vận hành thiết bị và xử lý các tình huống phát sinh.
Sau khoảng 2 năm làm việc với dàn máy mới, chị Phạm Thị Huệ nhận thấy công việc đã bớt vất vả hơn. “Ngày trước mình làm để theo kịp cái máy, nhịp độ dệt bị gián đoạn bởi những sợi tơ đứt, phải liên tục dừng máy để nối, mướt mồ hôi chạy theo thiết bị. Giờ máy chạy tốt rồi mình chủ yếu theo dõi nó thôi. Nhàn hơn nhiều mà vẫn phải tỉ mỉ, cẩn thận”, chị chia sẻ.
Theo tìm hiểu, làng lụa Nha Xá hiện có hơn 20 hộ sở hữu máy dệt công suất cao. Nhà ít có 2 máy, nhà nhiều khoảng 6 máy, trong khi chỉ 3-4 hộ có hệ thống xưởng quy mô lớn trên 10 máy.
Là làng nghề có truyền thống lâu đời, Nha Xá vẫn có những thời điểm sản lượng chưa đáp ứng hết đơn hàng. Một số cơ sở đã chú trọng xây dựng hình ảnh và đưa sản phẩm lên các nền tảng trực tuyến, song cách làm này chưa phổ biến.
Với những hộ có lượng đơn hàng ổn định, ưu tiên trước mắt vẫn là nâng công suất và hoàn thiện sản phẩm để kịp nhu cầu từ các đầu mối. Việc ứng dụng công nghệ cũng trải qua nhiều lần thử nghiệm, điều chỉnh quy trình và tối ưu nguyên liệu theo từng cơ sở.
Máy móc vì thế đang thay đổi phần việc của người lao động chứ chưa thể thay thế hoàn toàn người thợ. Thiết bị có thể giúp tạo ra nhiều mét vải hơn trong cùng thời gian, còn việc duy trì nghề truyền thống vẫn cần khả năng thích nghi của người làm nghề.
Công đoạn nhuộm cho thấy rõ giới hạn đó. Cùng một màu xanh nhưng có thể cần sắc độ khác nhau; người thợ lâu năm dựa vào kinh nghiệm để điều chỉnh, trong khi một hệ thống nhuộm hiện đại đòi hỏi khoản đầu tư lớn.
Những công việc nặng nhọc, lặp đi lặp lại đang dần được cơ giới hóa, còn người lao động chuyển sang vận hành và xử lý kỹ thuật. Ở những khâu máy móc chưa đáp ứng, kinh nghiệm của người thợ vẫn là phần không thể bỏ qua.
Ông Trần Văn Hưng, chủ một cơ sở sản xuất lụa, đã có khoảng 40 năm làm nghề và chứng kiến máy móc lần lượt thay đổi từ máy gỗ, máy sắt đến máy thoi, máy dệt Jacquard và các thiết bị hiện đại hơn.
“Muốn nghề tồn tại phải liên tục đổi mới. Sản phẩm cốt lõi vẫn là những mặt hàng truyền thống, nhưng chất lượng và năng suất được nâng lên nhờ công nghệ”, ông Hưng chia sẻ.
Nguyễn Mùi (tổng hợp)
