3 loại cá dễ là ổ ung thư cần thận trọng khi ăn

Cá giàu dinh dưỡng nhưng không phải loại nào cũng an toàn. Một số loại cá nếu ăn thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ bệnh mạn tính, kể cả ung thư.

Cá từ lâu được xem là thực phẩm có lợi cho sức khỏe nhờ hàm lượng protein cao, ít chất béo bão hòa và giàu axit béo không no. Nhiều gia đình Việt có thói quen ăn cá thường xuyên, thậm chí thay thế thịt đỏ bằng cá với suy nghĩ “càng ăn càng tốt”.

Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học và quan sát lâm sàng cho thấy không phải mọi loại cá đều an toàn nếu tiêu thụ lâu dài. Một số loại cá, do môi trường sống, cách nuôi trồng hoặc phương pháp chế biến, có thể chứa chất độc hại. Nếu sử dụng với tần suất cao, những yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính, trong đó có ung thư.

Lươn nuôi không kiểm soát tiềm ẩn hóa chất độc hại

Lươn là món ăn quen thuộc trong ẩm thực châu Á, được nhiều người đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, lươn nuôi trong môi trường không đạt chuẩn có nguy cơ chứa tồn dư hóa chất và kháng sinh bị cấm.

Đáng chú ý là malachite green (xanh malachite) – một chất kháng khuẩn từng được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản nhưng đã bị cấm từ năm 2002 do có khả năng gây độc và liên quan đến ung thư. Khi vào cơ thể, chất này có thể chuyển hóa thành dạng tồn dư bền vững, tích lũy trong gan và thận, gây tổn thương chức năng cơ quan nếu tiếp xúc lâu dài.

Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh không đúng quy định trong nuôi lươn có thể làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh và ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Vì vậy, người tiêu dùng được khuyến cáo chỉ nên mua lươn có nguồn gốc rõ ràng, tránh sản phẩm trôi nổi hoặc không kiểm soát an toàn thực phẩm.

3 loại cá dễ là ổ ung thư cần thận trọng khi ăn
Cá ướp muối hun khói làm tăng nguy cơ ung thư. (Ảnh: Chụp màn hình/afamily)

Cá biển sâu cỡ lớn dễ tích tụ kim loại nặng

Nhóm cá biển sâu kích thước lớn như cá mập, cá kiếm, cá ngừ đại dương thường sống lâu năm và nằm ở tầng cao của chuỗi thức ăn. Điều này khiến chúng dễ tích tụ kim loại nặng thông qua hiện tượng khuếch đại sinh học.

Trong đó, thủy ngân là mối nguy được quan tâm nhiều nhất. Phơi nhiễm thủy ngân kéo dài có thể gây tổn thương hệ thần kinh, ảnh hưởng trí nhớ, khả năng tập trung và vận động. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy phụ nữ mang thai ăn cá chứa hàm lượng thủy ngân cao có thể làm tăng nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở thai nhi.

Không chỉ dừng lại ở tác động thần kinh, việc tích lũy kim loại nặng trong thời gian dài còn được ghi nhận có liên quan đến nguy cơ ung thư gan, thận và phổi. Do đó, trẻ em, phụ nữ mang thai và phụ nữ cho con bú được khuyến cáo hạn chế tiêu thụ các loại cá biển sâu cỡ lớn.

Cá ướp muối hun khói làm tăng nguy cơ ung thư

Cá ướp muối, cá khô và cá hun khói là những thực phẩm quen thuộc nhờ hương vị đậm đà và khả năng bảo quản lâu. Tuy nhiên, quá trình chế biến này có thể tạo ra nitrosamine – nhóm hợp chất đã được Tổ chức Y tế Thế giới và Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế xếp vào nhóm chất gây ung thư.

Nhiều nghiên cứu cho thấy nitrosamine có mối liên hệ chặt chẽ với ung thư dạ dày và ung thư vòm họng. Tại những khu vực có thói quen ăn cá mặn thường xuyên, tỷ lệ mắc ung thư vòm họng cao hơn rõ rệt so với nơi khác, phản ánh tác động lâu dài của chế độ ăn uống.

Vì vậy, cá ướp muối và hun khói không nên sử dụng thường xuyên, mà chỉ nên ăn với lượng nhỏ và tần suất thấp.

Cá vẫn là thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng nếu được lựa chọn và sử dụng đúng cách. Các chuyên gia khuyến nghị nên ăn đa dạng, ưu tiên cá nhỏ, cá nuôi đạt chuẩn, ít tích tụ kim loại nặng. Phương pháp chế biến như hấp, luộc, nấu canh giúp hạn chế hình thành chất độc hại so với ướp muối hay hun khói.

Mỗi người chỉ nên ăn cá khoảng 2–3 lần mỗi tuần, mỗi lần 100–150 gram, kết hợp với rau xanh và trái cây giàu chất chống oxy hóa để hỗ trợ bảo vệ sức khỏe lâu dài.

Theo: afamily