Đàn bò tót lai Núi Chúa đứng trước thử thách giữ nguồn gene quý hiếm

KHÁNH HÒA – Mười cá thể bò tót lai đang được Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình chăm sóc, bảo tồn như một nguồn gene hoang dã đặc biệt, song việc nhân đàn vẫn gặp trở ngại lớn do hạn chế về sinh sản.

Đàn bò hiện gồm 9 cá thể lai F1 và một cá thể lai F2, đều được nuôi tại khu vườn thực vật rộng hơn 4ha thuộc xã Bác Ái Tây, tỉnh Khánh Hòa. Sau nhiều năm triển khai các đề tài nghiên cứu, đến nay mục tiêu hình thành thế hệ bò tót lai mới vẫn chưa đạt kết quả như kỳ vọng.

Mỗi ngày, anh Bình Tô Hà Lúc, 28 tuổi, đều đặn ba lần đưa rơm và cỏ tươi vào chuồng cho đàn bò. Sau hơn một năm gắn bó với công việc nhiều rủi ro, anh cho biết: “Cho ăn nhiều chúng cũng quen dần”.

Đàn bò là kết quả của một hiện tượng lai tự nhiên hiếm gặp giữa bò tót đực hoang dã và bò nhà tại xã Phước Bình trong giai đoạn 2009-2014. Con bò tót đực nặng gần một tấn thường xuyên rời rừng nhập đàn bò nhà vào mỗi buổi chiều, để lại hơn 20 cá thể lai F1 trước khi chết vào năm 2014.

Nhận thấy giá trị đặc biệt của nguồn gene này, cơ quan chức năng đã mua lại 10 cá thể F1 gồm năm con đực và năm con cái để phục vụ nghiên cứu, đồng thời triển khai ba đề tài khoa học cấp Nhà nước từ năm 2013 đến năm 2025 về giám định di truyền, khai thác nguồn gene và bảo tồn đàn bò lai.

Hành trình bảo tồn vẫn còn nhiều trở ngại

Khám phá đàn bò tót lai tại Vườn quốc gia Núi Chúa - Phước Bình và hành trình bảo tồn nguồn gen quý giữa rừng khô hạn.
Đàn bò tót lai được nuôi dưỡng trong khu bảo tồn để theo dõi và chăm sóc hằng ngày. (Ảnh minh họa: HPM)

Kết quả thực tế chưa như mong muốn khi cả năm cá thể cái F1 vẫn chưa sinh sản. Chỉ duy nhất một cá thể đực F1 trong thời gian được thả rong đã giao phối với bò cái nhà, tạo ra một cá thể F2, hiện được đưa về trại khảo nghiệm từ hai năm trước.

Giai đoạn 2021-2025, đàn bò được chuyển thành tài sản công và giao Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình trực tiếp quản lý. Chuồng trại cũng được mở rộng để tạo điều kiện cho đàn bò duy trì tập tính gần với môi trường tự nhiên.

Theo các nghiên cứu về di truyền bò rừng châu Á, bò tót và bò nhà tuy cùng thuộc chi Bos nhưng có cấu trúc nhiễm sắc thể khác nhau. Điều này khiến quá trình giảm phân ở con lai đực tạo ra nhiều giao tử mất cân bằng, dẫn đến tinh trùng dị dạng hoặc bất động, làm giảm đáng kể khả năng sinh sản.

Tình trạng này từng xuất hiện ở dự án lai tạo giống Selembu tại Malaysia. Sau khi tạo được 12 cá thể F1 đầu tiên vào năm 1983, chương trình nhân giống cũng phải dừng lại vì gặp khó khăn tương tự về sinh sản.

Thạc sĩ Nguyễn Anh Tuấn, cán bộ Ban Quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình, nhận định: “Mất đàn bò lai là mất một nguồn gene không thể có lại”. Theo ông, khả năng nhân đàn hiện vẫn chỉ dừng ở mức tiềm năng do còn nhiều hạn chế về di truyền học và cần thêm thời gian nghiên cứu.

Trong bối cảnh Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã xếp bò tót ngoài tự nhiên vào nhóm Sắp nguy cấp từ năm 1986, với quần thể toàn cầu chỉ còn tối đa khoảng 21.000 cá thể trưởng thành, mỗi cá thể bò tót lai mang gene hoang dã đều có giá trị đặc biệt. Năm 2026, kinh phí chăm sóc đàn bò dự kiến hơn 311 triệu đồng, trong khi các cá thể F1 đã ở độ tuổi 13-16, khiến thời gian để tìm lời giải cho bài toán bảo tồn ngày càng trở nên cấp thiết.

nguyễn Mùi (tổng hợp)