Pháp luật cho phép người dân có quyền bắt giữ người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, song không khuyến khích tự ý khống chế người tình nghi.
- Khen thưởng nam sinh hỗ trợ phi công sau vụ rơi máy bay Ở Đắk Lắk
- Vụ bạo hành cụ bà 82 tuổi: Gia đình nói “Mẹ tôi quá sợ hãi”
- Ông Trump “đếm ngược” với Iran, bóng ma xung đột phủ Trung Đông
Bộ Công an đã phát động kêu gọi người dân cung cấp thông tin và công bố đặc điểm nhận dạng hai đối tượng liên quan vụ cướp ngân hàng xảy ra tại Gia Lai ngày 19/1. Theo thông tin ban đầu, hai nghi phạm đều là nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 40, một người cao khoảng 1,65m nói giọng miền Nam, người còn lại cao khoảng 1,68m nói giọng miền Trung.
Cơ quan công an đề nghị người dân khi phát hiện thông tin liên quan cần nhanh chóng thông báo qua số điện thoại được công bố hoặc trình báo công an xã, phường gần nhất. Bộ Công an khẳng định sẽ bảo mật tuyệt đối danh tính người cung cấp tin, đồng thời có hình thức động viên, khen thưởng đối với những thông tin có giá trị và nghiêm cấm mọi hành vi bao che, tiếp tay cho tội phạm.
Từ vụ việc này, nhiều người đặt câu hỏi: nếu phát hiện hai đối tượng nghi liên quan vụ cướp, người dân có được quyền trực tiếp bắt giữ hay không và việc bắt giữ cần thực hiện thế nào để không vi phạm pháp luật?
Người dân có quyền bắt giữ trong trường hợp nào?
Luật sư Trần Hoàng Linh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo Điều 111 và Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người dân có quyền bắt giữ đối với người đang thực hiện hành vi phạm tội, vừa thực hiện xong hành vi phạm tội mà bị phát hiện, truy đuổi, hoặc người đang bị truy nã.
Trong các trường hợp này, bất kỳ ai cũng có thể bắt giữ, tước vũ khí, hung khí của người phạm tội và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất để xử lý theo thẩm quyền.
Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia của người dân trong công tác phòng, chống tội phạm, đồng thời hạn chế nguy cơ đối tượng bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án.

Người dân có quyền bắt giữ nhưng phải đúng giới hạn
Liên quan đến việc sử dụng vũ lực khi bắt giữ người phạm tội, luật sư dẫn Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, hành vi sử dụng vũ lực cần thiết để bắt giữ người phạm tội trong trường hợp không còn cách nào khác, dù gây thiệt hại cho người bị bắt, thì không bị coi là tội phạm.
Tuy nhiên, nếu việc sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết, gây thiệt hại rõ ràng không tương xứng, người thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Theo phân tích của luật sư, việc bắt giữ người phạm tội tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi đối tượng có thể chống trả, gây nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng và tài sản của người bắt. Do đó, mức độ vũ lực sử dụng phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm pháp cũng như sự chống cự của người bị bắt và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
Đối chiếu với vụ việc tại Gia Lai, luật sư cho rằng người dân chỉ được quyền bắt giữ khi xác định rõ đó là người phạm tội quả tang, đang bị truy đuổi hoặc đã có quyết định truy nã.
Pháp luật hiện hành không cho phép người dân tự ý bắt giữ những người mới chỉ thuộc diện tình nghi, chưa xác định rõ hành vi phạm tội hoặc danh tính. Trong các trường hợp này, người dân nên nhanh chóng báo cho cơ quan chức năng để phối hợp xác minh, xử lý, tránh phát sinh rủi ro về pháp lý, sức khỏe và tính mạng không đáng có.
Theo: Báo Dân trí
