Lê Ích Mộc (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1458 – mất 15 tháng 2 năm 1538), người làng Thanh Lãng, tên Nôm là Ráng, tổng Phù Lưu, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương, (nay thuộc phường Lê Ích Mộc, thành phố Hải Phòng). Ông là vị trạng nguyên được sử ghi có nhiều điều ‘lạ’.
- Nguyễn Tất Tố – Bậc kỳ tài trong chiến công ‘phá Bạch Đằng, diệt Hoằng Tháo’
- Khoảnh khắc xúc động: chú rể 1 chân đón cô dâu khiến ai cũng rơi lệ
- Hệ Mặt trời di chuyển nhanh gấp 3 lần? Giới khoa học bất ngờ
Duyên cửa Phật – nền tảng của một Trạng nguyên khác lạ
Ở làng Thanh Lãng, huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn xứ Hải Dương – vùng đất sau này thuộc phường mang chính tên ông tại thành phố Hải Phòng – cuối thế kỷ XV có đôi vợ chồng Lê Văn Quang – Nguyễn Thị Lệ nổi tiếng hiền lương, kính pháp, hay giúp người. Họ sinh được một cậu bé mặt vuông tai lớn, thần sắc khoáng đạt, đặt tên là Lê Ích Mộc. Từ thuở bé đã được yêu quý vì thông tuệ, tính tình khiêm hoà, lại ham đọc kinh sách, mỗi khi rảnh việc nhà lại tìm tới chùa Ráng (Thiên Phúc) mượn sách về nghiền ngẫm. Không có giấy bút, cậu đổ cát vào mâm làm bảng viết chữ, xóa đi rồi viết lại, chữ chưa từng lười phai.
Một buổi chiều thơ ấu, khi đang chơi đùa, Ích Mộc được một nhà sư già nhận thấy tướng quý bẩm sinh. Thầy theo về tận nhà, tâu rằng đứa trẻ này mai sau ắt đỗ cao, làm rạng danh gia tộc, xin được đưa về chùa rèn dạy. Cha mẹ bằng lòng, và từ đó Ích Mộc rời làng mà về kinh thành Thăng Long, vào tu học tại chùa Láng (Yên Lãng) – nơi thuộc dòng Thiền Diệt Hỷ của Tì Ni Đa Lưu Chi, từng in dấu những bậc danh tăng như Vạn Hạnh, Pháp Hiền, Ngô Chân Lưu, Minh Không…
Năm năm rèn giới – định – huệ, ông thấu kinh Phật mà cũng không bỏ Nho học. Tứ Thư Ngũ Kinh song hành cùng Bát nhã, lẽ sắc – không tương thẩm, khiến tư duy của Ích Mộc trở nên khác biệt với hầu hết sĩ tử đương thời. Vào đời Lê, Nho giáo lên ngôi, Phật giáo không còn giữ địa vị như thời Lý – Trần; nhưng chính trong bối cảnh ấy, mạch Phật pháp nơi chàng trai Thanh Lãng lại được vun bồi, chờ ngày ứng hiện.
Trong dân gian còn lưu giai thoại lạ: Ích Mộc khi được xướng danh Trạng nguyên, vua ban chế; ông quỳ dâng hương bái tạ, lửa trong lư rực cháy mà tay tuột cả da vẫn không hay. Người đời xem đó là cảnh giới thiền định nơi thân tâm, còn triều đình thì chỉ thấy sự kỳ dị ở bậc tân khoa.

Trạng nguyên của thi đề hỏi về Phật pháp và đạo trị vì thiên hạ
Năm 1502, đời Lê Hiến Tông mở khoa thi lớn. Lê Ích Mộc vượt Hương thí rồi cùng năm nghìn sĩ tử bước vào Hội thí, qua được “tứ trường” gian nan mà vào Đình thí – kỳ thi tối cao để chọn người đứng đầu bảng vàng. Điều lạ chưa từng có: thi Hội hỏi về đạo trị thiên hạ, nhưng vào tới Đình, vua lại hỏi về Phật pháp. Hơn trăm câu vấn đề, có câu huyền hoặc, có câu gần như phủ bác giáo lý nhà Phật, khiến sĩ tử vốn chỉ quen Nho điển bối rối. Ai không hiểu Phật pháp thì viết theo hướng công kích, cho rằng đạo Phật không đáng tin, không có chỗ lập trị.
Chỉ có Ích Mộc – người từng mài đời mình bằng cả kinh Phật lẫn sách Thánh hiền – ung dung giải đề, đem Phật học mà luận thế sự, đem tâm tính mà luận vương đạo. Khi đọc đến bài của ông, vua Hiến Tông sững sờ thốt:
“Bài văn của Ích Mộc hơn hẳn mấy tầm so với các bạn đồng khoa. Xứng khôi nguyên!”
Và thế là vị đạo sĩ – học trò chùa Láng – bước thẳng lên ngôi Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đứng đầu bảng vàng Nhâm Tuất Cảnh Thống 5. Cùng khoa ấy có Lê Sạn, Nguyễn Văn Thái đỗ tam vị Giáp Tiến sĩ; Nguyễn Cảnh Diễn, Lê Nhân Tế và 24 người khác đỗ Đệ nhị giáp; 34 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Nhưng chỉ một người trả lời được trọn vẹn câu hỏi Đình thí bằng Phật pháp để luận đạo trị nước, và người ấy là Lê Ích Mộc.
Phần bài văn sách được Hán Nôm dịch lại hôm nay vẫn còn đó, cho ta thấy chiều sâu tư tưởng khác biệt của ông – nơi Phật và Thánh, Nho và Thiền, đều quy về một chữ Tâm. Ông viết về “chân đạo vô thể, tịch mĩnh – đạm bạc – bình thường”, về tâm là tính, tính là khí, khí là lý vận hành trời đất. Phật không ở ngoài, mà ở chính nơi mỗi người, như hư không không sáng chẳng tối mà bao trùm vạn tượng. Ông gọi đó là nền tảng để trị quốc an dân:
hiểu được tâm – tức hiểu người; hiểu được đạo – tức biết cách hóa trị xã hội.
Lê Ích Mộc làm quan đến chức Tả thị lang (tương đương chức Thứ trưởng ngày nay), thanh liêm, giản dị, không rời cốt thiền trong việc nước. Khi mất năm 1538, nhân dân lập miếu thờ, tạc tượng ông cạnh chùa Diên Phúc, xem như một bậc thánh trí đã dùng tuệ giác mà giúp đời. Quê hương Thanh Lãng đổi tên phường theo ông – dấu son để hậu thế nhớ một con người kỳ dị mà lớn lao:
xuất thân nơi cửa Phật, thành Trạng nguyên bằng Phật pháp, dùng tâm đạo để luận đạo trị quốc.
