Trong các quan lại triều Nguyễn, Đỗ Quang nổi lên như một tấm gương sáng chói về nhân cách và khí tiết của một sĩ phu yêu nước. Ông không chỉ là một nhà khoa bảng tài năng mà còn là một vị quan “thương dân như con”, người đã để lại những câu chuyện cảm động về lòng liêm khiết và sự chính trực đến tận hôm nay.
- Công chúa An Tư – bóng hình thầm lặng trong lịch sử
- “Chữ tín” trong thời đại số – học Nguyễn Bỉnh Khiêm giữ lời
- Vì sao con người nên tin vào Thần Phật để sống thiện?
Hành trình khoa bảng rạng danh và nhân cách cao khiết của người con xứ Đông
Đỗ Quang (tên cũ là Đỗ Tông Quang), tự là Huy Cát, sinh năm Giáp Tý (1804) tại làng Hoa Điếm, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương – một vùng đất vốn có truyền thống hiếu học của xứ Đông. Xuất thân từ dòng dõi khoa bảng, ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, mẫn tiệp. Sự nghiệp học hành của ông đạt đến đỉnh cao vào năm Nhâm Thìn (1832) khi ông liên tiếp đỗ đầu kỳ thi Hội (Giải nguyên) và sau đó đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân trong kỳ thi Đình.
Dù mang trên mình danh hiệu cao quý của một vị Tiến sĩ ở tuổi 29, Đỗ Quang vẫn giữ được bản tính khiêm nhường hiếm có. Sử sách ghi lại rằng, sau khi đỗ đạt, ông không ngồi kiệu võng rình rang mà chọn cách đi bộ về làng. Sự giản dị này không chỉ là một hành động đơn thuần mà là khởi đầu cho một cuộc đời thanh bạch suốt 30 năm làm quan qua ba triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Nhân cách của Đỗ Quang được hun đúc từ một gia phong nghiêm cẩn. Dù giữ đến những chức vụ quan trọng như Thượng thư bộ Lễ, cuộc sống của gia đình ông vẫn hết sức đạm bạc. Nhà ông chỉ là một gian hai chái lợp tranh chật hẹp. Trong khi những vị quan khác có thể sống trong lầu son gác tía, thì mẹ già và vợ con Đỗ Quang vẫn mặc quần nâu áo vải, tự tay cày cấy trồng trọt để sinh nhai. Hình ảnh người mẹ ngoài 80 tuổi của ông chỉ có duy nhất một bộ váy áo lụa lành, chỉ dành để mặc khi tiếp khách xa, còn ngày thường lại cất kỹ vào hòm, là một minh chứng sống động cho nếp sống thanh bạch của vị đại thần này.
Đáng quý hơn cả là thái độ của ông trước sự nghèo túng. Khi vợ phàn nàn về cảnh túng quẫn, Đỗ Quang đã điềm tĩnh trả lời: “Phàm những người làm quan như tôi mà giàu có thì phải xem xét lại nguồn thu nhập của họ”. Câu nói này không chỉ thể hiện cái tâm trong sạch mà còn là một lời cảnh tỉnh đanh thép đối với thói tham nhũng, vơ vét của một bộ phận quan lại thời bấy giờ. Ông quan niệm rằng lộc nước chỉ đủ để nuôi sống gia đình, còn sự giàu sang của kẻ làm quan thường đi kèm với những nguồn thu bất chính.
Lòng dân là thước đo công trạng: Từ vị quan “thương dân như con” đến tấm gương cho hậu thế
Sự nghiệp làm quan của Đỗ Quang gắn liền với những thăng trầm của đất nước, nhưng dù ở vị trí nào, ông cũng đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Năm 1850, khi đang giữ chức Tuần phủ Định Tường, vùng đất này gặp thiên tai mất mùa, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Để cứu dân, ông đã quyết định giảm thuế, dẫn đến việc triều đình bị thất thu thuế. Bên cạnh đó, vụ việc tàu buôn nước Thanh trốn thuế tại cửa biển Định Tường do quan lại canh phòng sơ sài đã khiến vua Tự Đức nổi giận bãi chức ông.
Tuy nhiên, giá trị của một vị quan không nằm ở phẩm hàm mà nằm ở lòng dân. Khi Đỗ Quang rời khỏi Định Tường, dân chúng đã khóc thương tiễn ông vì hiểu rằng ông chịu tội là vì thương dân,. Chính vua Tự Đức sau khi nghe tin này cũng phải cảm thán: “Nếu không phải ngày thường được lòng dân, sao có như thế”. Nhờ sự thanh liêm và lòng dân ủng hộ, ông sớm được khởi phục, giao phó nhiều trọng trách quan trọng khác như Án sát Nghệ An hay Tham tri bộ Lễ.
Khí tiết của Đỗ Quang còn được thể hiện rõ nét khi ông được cử đi dẹp nạn thổ phỉ tại vùng Hải Yên (Hải Dương – Quảng Yên). Trước sự tiếp đón linh đình, quà cáp đầy hương án của quan lại địa phương, ông đã thẳng thừng từ chối tất cả. Thay vì ngồi trong công đường nghe báo cáo, ông chọn cách đi bộ đến tận nhà dân để thị sát, nắm bắt thực tế đời sống. Cách hành xử chí tình, chí nghĩa của ông không chỉ khiến nhân dân kính phục mà còn cảm hóa được cả những nhóm thổ phỉ đang gây rối, trả lại sự bình yên cho vùng đất này.
Khi Pháp xâm lược, Đỗ Quang lại một lần nữa dấn thân vào nơi hiểm nguy. Năm 1860, ông được cử vào Nam giữ chức Thự Tuần phủ Gia Định để đối phó với giặc. Khi triều đình triệu ông về kinh năm 1862 sau khi hòa nghị, người dân Gia Định đã đứng chặn kín đường, tiếng khóc than vang dậy vì họ không muốn mất đi một vị quan liêm trực, hết lòng vì dân. Đỗ Quang đã phải gạt nước mắt mà đi, lòng nặng trĩu nỗi hổ thẹn vì cảm thấy mình không thể giúp đỡ được nhân dân vùng đất này đến cùng.
Cho đến tận khi qua đời vào năm 1866, Đỗ Quang vẫn luôn là một tấm gương về sự tận hiến và trung chính. Vua Tự Đức đã ban dụ khen ngợi ông là người “thanh bạch, trung chính, chăm chỉ, cẩn thận, được tiếng trong ngoài”. Ngay cả nhiều năm sau, nhà vua vẫn thường xuyên nhắc đến ông như một hình mẫu lý tưởng về học vấn và nhân cách để các quan viên noi theo.
