Ruốc sông: món ăn gói trọn vị phù sa và ký ức

Trong tâm thức của những đứa con lớn lên từ dải đất phù sa sông Hồng, có những mùi hương chẳng cần gọi tên cũng tự khắc tìm về mỗi khi gió mùa xao xác. Đó không phải mùi giò chả sang trọng, cũng chẳng phải hương cốm mới nồng nàn, mà là mùi nồng đượm, béo ngậy của bát ruốc sông chưng mỡ lợn. Con ruốc bé tí hi như hạt cát, mỏng manh như sương khói, ấy thế mà lại gói trọn cả một bầu trời kỷ niệm của những năm tháng gian khó nhưng ấm áp tình quê.

Hạt cát phù sa- món quà từ dòng sông mẹ

Mỗi khi gió mùa tràn về, dòng sông Hồng lại đổi nhịp theo con nước, cũng là lúc ruốc bắt đầu xuất hiện. Loài này không theo một mùa cố định, nhưng thường rộ lên từ khoảng tháng Chạp đến hết tháng Giêng, khi mực nước lên xuống rõ rệt.

Ruốc sông không giống con tép riu, cũng chẳng phải tôm nhỏ. Chúng li ti, mịn màng như những hạt cát hồng dạt vào bờ bãi theo con sóng phù sa. Đàn ruốc đi đến đâu, mặt nước xao động đến đó, lấp lánh như một dải lụa nhuộm hồng dưới nắng sớm. Ngày ấy, chẳng cần lưới cao quét sâu, dân làng tôi chỉ cần chiếc rổ tre thật dày mắt hoặc tấm màn tuyn cũ là có thể vớt được cả mớ mang về.

Với lũ trẻ chúng tôi ngày đó, ruốc là món quà của sông, là thứ đặc sản của nhà nghèo nhưng ngon đến lạ lùng. không có thịt thà cao sang, chỉ cần một bát ruốc chưng là có thể đánh bay ba bốn bát cơm trắng, cái vị ngọt lịm của phù sa thấm vào từng hạt gạo, ăn đưa cơm đến mức “thủng nồi trôi rế”.

Ruốc sông: món ăn gói trọn vị phù sa và ký ức
Ngày ấy, chẳng cần lưới cao quét sâu, dân làng tôi chỉ cần chiếc rổ tre thật dày mắt hoặc tấm màn tuyn cũ là có thể vớt được cả mớ mang về. (Ảnh: haiphongmoi)

“Nhỏ mà có võ” -ruốc sông thứ dinh dưỡng chắt chiu từ bùn bãi

Mẹ tôi vẫn bảo, con ruốc tuy nhỏ nhưng có nhiều chất dinh dưỡng lắm. Trong cái hình hài tí hon ấy là nguồn đạm quý giá mà dòng sông ban tặng cho những đứa trẻ vùng ven. Vì ruốc nhỏ, khi ăn ta ăn cả con, nên đó là cách tự nhiên nhất để lũ trẻ con nhà nghèo chúng tôi được bổ sung canxi cho cứng cáp xương cốt mà chẳng cần đến thuốc bổ xa xỉ.

Khác với tôm cá lớn phải bóc vỏ bỏ xương, cái vị ngọt hậu của ruốc đến từ sự vẹn tròn của cả thân thể li ti ấy. Nó dễ tiêu, nhẹ bụng, thấm đẫm các axit amin tự nhiên giúp bát cơm thô trở nên đậm đà. Tuy nhiên, món quà của sông cũng có chút “đỏ đỏng”; mẹ luôn dặn ai nhạy cảm hay có bệnh trong người thì phải dè chừng vì tính phong của loài giáp xác. Và nhất là khâu làm sạch, mẹ phải tỉ mẩn đãi đi đãi lại vì ruốc sống sát tầng nước, rất dễ lẫn bùn cát – thứ “hạt bụi phù sa” cần sự kiên nhẫn mới tách bạch được.

Bản giao hưởng chua – chát – cay – thơm

Để món ruốc sông không còn mùi tanh mà dậy lên hương vị đặc trưng, người nội trợ vùng đồng bằng sông Hồng có những bí quyết riêng mà tôi chưa thấy ở đâu có được. Ruốc sau khi đãi sạch, để ráo sẽ được chưng cùng dái mít thái mỏng và lá me đất được hái ngoài bờ ruộng. Vị chát của mít và vị chua thanh của me giúp làm dịu mùi tanh đặc trưng, đồng thời khiến phần thân ruốc li ti trở nên mềm và bùi hơn.

Linh hồn của món ăn nằm ở phần gia vị: tóp mỡ lợn vàng ruộm, gừng tươi giã nhỏ, tiêu bắc xay nhuyễn và lá thì là. Sự cay ấm của gừng và tiêu hòa quyện cùng mùi thơm đặc trưng của thì là tạo nên một lớp hương vừa sâu vừa ấm, làm cho món ruốc không chỉ đậm mà còn có chiều. Cách chưng cũng cần sự kiên nhẫn. Hành khô được phi thơm với mỡ, sau đó cho ruốc vào đảo săn đến khi chuyển màu đỏ au, rồi mới thêm dái mít, lá me và nước mắm cốt. Rim nhỏ lửa đến khi tất cả quyện lại, dậy mùi và óng lên, khi ấy ruốc mới đạt đến độ ngon trọn vẹn.

Ruốc sông: món ăn gói trọn vị phù sa và ký ức
Ruốc sau khi đãi sạch, để ráo sẽ được chưng cùng dái mít thái mỏng và lá me đất được hái ngoài bờ ruộng. (Ảnh: haiphongmoi)

Ruốc sông: Khi món ăn hóa thành nỗi nhớ

Nhắm mắt lại, tôi vẫn thấy hình ảnh mẹ bên bếp củi nhập nhòe khói, nơi nồi ruốc chưng tỏa hương len lỏi qua liếp cửa đón bước chân cha đi làm đồng về. Bát cơm trắng nóng hổi xới đầy ngọn, múc một thìa ruốc bóng bẩy đặt lên trên; cái vị mặn mòi của mắm cốt quyện cùng vị béo ngậy của tóp mỡ, cái bùi bùi của dái mít xen lẫn vị chua thanh lá me… tất cả tạo nên một sức quyến rũ kỳ lạ. Giữa cái rét nàng Bân, chỉ cần bát cơm ruốc ấy thôi là đủ để ấm lòng.

Ngày nay, ruốc sông không hề mất đi, nó vẫn hiện diện trong các khu chợ hay thậm chí trở thành món đặc sản trên bàn tiệc phố thị với nhiều cách chế biến cầu kỳ hơn. Thế nhưng, thật khó để tìm lại cái vị ruốc chưng đúng điệu của ngày xưa – cái vị mà sự thiếu thốn làm cho mọi thứ trở nên trân quý. Sông ngòi đổi dòng, con người cũng bận rộn hơn với những món ngon vật lạ, nhưng giá trị của bát ruốc sông năm ấy vẫn là một “di sản” trong tâm thức. Nó không chỉ là mỹ vị dân dã mà còn là sợi dây vô hình kết nối chúng ta với cội nguồn phù sa, nhắc nhở về một thời gian khó nhưng bền bỉ và ấm áp tình quê.