An toàn thực phẩm cần được kiểm soát chặt từ từng mắt xích

Những vụ việc liên quan đến thịt heo nhiễm bệnh tại Đồng Nai và Công ty CP Đồ hộp Hạ Long đặt ra yêu cầu rà soát trách nhiệm của các khâu thu gom, giết mổ, chế biến và giám sát thực phẩm.

Từ năm 2024 đến khi bị phát hiện, đường dây do Trần Văn Hùng cầm đầu bị xác định đã đưa khoảng 400 tấn heo bệnh, heo chết ra thị trường, thu lợi bất chính hơn 10 tỉ đồng. Trong khi đó, vụ việc tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long liên quan đến hơn 197 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi được mua phục vụ sản xuất trong năm 2025, cho thấy nguy cơ mất an toàn có thể xuất hiện ở nhiều công đoạn của chuỗi cung ứng.

Ngày 21/10, Công an TP Đồng Nai thông tin về việc triệt phá đường dây thu gom, giết mổ và tiêu thụ heo bệnh, heo chết do Trần Văn Hùng cầm đầu. Theo kết quả điều tra ban đầu, các đối tượng đã hoạt động trong thời gian dài trước khi bị phát hiện.

Đầu tháng 9/2026, Phòng Cảnh sát kinh tế phát hiện đường dây hoạt động tại phường Xuân Lộc, xã Xuân Hòa và những khu vực lân cận. Đến ngày 5/10, lực lượng chức năng kiểm tra 5 địa điểm, thu giữ khoảng 7 tấn thịt heo chết nhiễm virus dịch tả heo châu Phi.

Số thịt này đã được pha lóc để phân phối cho nhiều đầu mối, trong đó có cơ sở sản xuất giò chả. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam 9 người để phục vụ điều tra. Một vụ việc khác từng gây chú ý là sai phạm liên quan đến nguyên liệu tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long. Theo thông tin từ Công an TP Hải Phòng, trong năm 2025, doanh nghiệp này đã mua hơn 197 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi để phục vụ sản xuất.

Ngày 30/9/2026, TAND TP Hải Phòng tuyên án sơ thẩm đối với 17 bị cáo trong vụ án. Trong đó, 15 bị cáo bị tuyên phạt về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, một bị cáo bị tuyên phạt về tội Đưa hối lộ và một cựu Phó Trạm trưởng thuộc Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y Hải Phòng bị tuyên phạt về tội Nhận hối lộ.

Hai vụ việc có diễn biến và tình tiết khác nhau, song đều cho thấy yêu cầu phải kiểm soát thực phẩm từ đầu vào đến khi đưa ra thị trường. Không chỉ cần xử lý hành vi cố tình vi phạm, cơ quan chức năng còn phải làm rõ vì sao những nguy cơ này không được phát hiện và ngăn chặn sớm hơn.

Rà soát trách nhiệm từ khâu đầu vào đến hậu kiểm

Trong vụ việc tại Đồng Nai, heo bệnh, heo chết được thu gom từ nhiều nguồn, sau đó đưa đến địa điểm giết mổ, pha lóc và phân phối. Việc đường dây được xác định hoạt động từ năm 2024 đến khi bị phát hiện đặt ra yêu cầu xem xét hiệu quả giám sát tại các điểm thu gom, trung chuyển và giết mổ.

Tuy nhiên, thông tin được công bố ban đầu chưa đủ cơ sở để kết luận toàn bộ số thịt đã được cấp giấy kiểm dịch hoặc đóng dấu thú y hợp lệ. Muốn xác định chính xác khâu kiểm soát nào bị bỏ lọt, cần làm rõ hồ sơ từng lô hàng, nguồn gốc vật nuôi và trách nhiệm của những người liên quan.

Vụ Công ty CP Đồ hộp Hạ Long lại cho thấy nguy cơ có thể xuất hiện ngay trong quá trình tiếp nhận nguyên liệu của doanh nghiệp. Theo thông tin từ Công an TP Hải Phòng, các cá nhân có trách nhiệm đã bỏ qua những bước kiểm tra, lấy mẫu xét nghiệm đối với thịt lợn được đưa đến, tạo điều kiện để nguyên liệu nhiễm bệnh được nhập vào sản xuất.

Thực tế này cho thấy giấy tờ hoặc cam kết của nhà cung cấp không thể thay thế việc kiểm tra nguyên liệu một cách thực chất. Nếu quy trình tiếp nhận không được thực hiện đầy đủ, doanh nghiệp có thể trở thành nơi đưa thực phẩm không bảo đảm an toàn vào chuỗi sản xuất.

Trách nhiệm trước hết thuộc về các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm. Song song với việc xử lý những người liên quan, cần xác minh hoạt động kiểm tra, giám sát có phát hiện dấu hiệu bất thường hay không, nhất là tại các cơ sở và công đoạn có nguy cơ cao.

Công tác hậu kiểm cũng cần được xem xét. Thời gian hoạt động của đường dây ở Đồng Nai và quá trình mua thịt nhiễm bệnh trong vụ Công ty CP Đồ hộp Hạ Long là những căn cứ để cơ quan chức năng làm rõ các cơ sở đã từng được kiểm tra chưa, dấu hiệu vi phạm xuất hiện từ thời điểm nào và vì sao không được phát hiện kịp thời.

Về trách nhiệm pháp lý, Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 quy định nghĩa vụ bảo đảm an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, trong đó có việc kiểm soát nguồn gốc và truy xuất thực phẩm không bảo đảm an toàn. Điều 54 quy định về truy xuất nguồn gốc, còn Điều 55 quy định việc thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Như vậy, việc rà soát không chỉ dừng ở quy định hiện hành mà còn phải làm rõ hiệu quả thực thi. Doanh nghiệp có kiểm tra đầy đủ nguyên liệu đầu vào hay không, hồ sơ có phản ánh đúng hàng hóa thực tế hay không và cơ quan chức năng có giám sát đúng trọng tâm hay không cần được xác định bằng hồ sơ kiểm tra, kết quả lấy mẫu và dữ liệu truy xuất.

Để hạn chế nguy cơ tái diễn, cần tăng cường kiểm soát tại các điểm thu gom, vận chuyển, giết mổ và cơ sở chế biến; chú trọng hậu kiểm đối với nhóm có nguy cơ cao; đồng thời kết hợp kiểm tra đột xuất, lấy mẫu xét nghiệm và truy xuất ngược khi phát hiện dấu hiệu bất thường.

Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với nguyên liệu đầu vào. Các cơ quan quản lý cũng cần nâng cao hiệu quả phối hợp, chia sẻ thông tin giữa những khâu liên quan đến thú y, quản lý thị trường và an toàn thực phẩm.

Quan trọng hơn, mỗi công đoạn cần có quy trình kiểm chứng rõ ràng, xác định được người chịu trách nhiệm và bảo đảm khả năng giải trình khi xảy ra vi phạm. Chỉ khi những điểm yếu được xác định bằng chứng cứ và khắc phục trong thực tế, công tác kiểm soát mới có thể ngăn chặn nguy cơ từ sớm, thay vì chỉ phát hiện khi thực phẩm không an toàn đã được đưa đi tiêu thụ.

Vũ Phượng (tổng hợp)