Quyền thừa kế được xem xét từ mối quan hệ mẹ kế, con riêng

Tại Hải Phòng, tranh chấp di sản giữa hai chị em cùng cha khác mẹ được giải quyết qua hai cấp xét xử, trong đó tòa án xác định người chị đủ điều kiện hưởng thừa kế từ mẹ kế đã qua đời.

Vụ việc liên quan đến thửa đất gia đình rộng 938m², qua nhiều lần chuyển nhượng và quản lý, sử dụng đã phát sinh bất đồng về quyền sở hữu, quyền thừa kế. Bản án phúc thẩm số 293/2023/DS-PT ngày 23/6/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên phán quyết sơ thẩm, chia cho mỗi người 55,5m² đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng người em.

Bà T. là con của cụ N. và cụ X., trong khi bà Th. là con của cụ N. với người vợ thứ hai là cụ C. Gia đình từng sinh sống trên thửa đất rộng 938m² tại Hải Phòng; cụ X. mất năm 1965, cụ N. qua đời năm 1980 và cả hai đều không để lại di chúc.

Đến năm 1983, cụ C. chuyển nhượng 592m² đất cho người khác, phần diện tích còn lại khoảng 346m² tiếp tục do cụ quản lý, sử dụng. Bà T. cho biết vì có quan hệ mẹ kế, con riêng và được cụ C. nuôi dưỡng, bà không phản đối giao dịch chuyển nhượng khi đó.

Sau khi cụ C. qua đời năm 2014, bà T. nhiều lần đề nghị em gái phân chia phần đất còn lại nhưng không tìm được tiếng nói chung. Bất đồng gia tăng vào năm 2020, khi bà Th. chia đất cho các con xây nhà và thông báo vợ chồng mình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 323m² từ năm 2007.

Cho rằng quyền lợi thừa kế bị ảnh hưởng, bà T. khởi kiện, yêu cầu hủy giấy chứng nhận và phân chia di sản. Ở chiều ngược lại, bà Th. khẳng định cụ C. đã cho mình phần đất này từ khi còn sống, đồng thời cho rằng gia đình bà đã quản lý, sửa chữa nhà cửa và sử dụng đất ổn định trong nhiều năm, còn chị gái đã lấy chồng, sinh sống ở nơi khác.

Ở cấp sơ thẩm, TAND TP Hải Phòng nhận định yêu cầu chia di sản của cụ N. và cụ X. đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với tài sản của cụ C., tòa xác định 111m² đất thuộc phần di sản được phân chia, mỗi chị em nhận 55,5m², có giá trị tương đương 444 triệu đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho vợ chồng bà Th. năm 2007 cũng bị tuyên hủy.

Không đồng tình với phán quyết, cả hai chị em đều kháng cáo. Bà Th. đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị gái, trong khi bà T. đề nghị xem xét lại việc phân chia di sản.

Tại phiên phúc thẩm, TAND cấp cao tại Hà Nội tiếp tục xác định yêu cầu chia di sản của cụ N. và cụ X. đã hết thời hiệu, còn yêu cầu liên quan đến di sản của cụ C. vẫn trong thời hiệu do cụ qua đời năm 2014. Kết quả đo đạc thực tế xác định diện tích thửa đất tranh chấp là 333,5m², lớn hơn 10,5m² so với con số 323m² ghi trên giấy chứng nhận đã cấp.

Hồ sơ cùng kết quả xác minh tại địa phương thể hiện bà T. từng chăm sóc, phụng dưỡng cụ C. khi còn sống, đồng thời tham gia lo tang lễ và cải táng. Từ những căn cứ này, tòa áp dụng Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định giữa bà T. và cụ C. có quan hệ mẹ kế, con riêng cùng sự chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau, qua đó công nhận bà T. đủ điều kiện hưởng thừa kế di sản của cụ C.

Đối với giấy viết tay mang tên “Quyền thừa kế”, được bà Th. cung cấp và lập năm 2005, tòa nhận định văn bản không đáp ứng các điều kiện để được công nhận là di chúc hợp pháp. Cụ C. cũng không có quyền tự định đoạt toàn bộ tài sản chung còn lại của mình, cụ N. và cụ X., vì vậy việc cấp giấy chứng nhận cho vợ chồng bà Th. đối với diện tích đất tranh chấp không phù hợp quy định pháp luật.

Kết thúc quá trình xét xử, TAND cấp cao tại Hà Nội bác kháng cáo của cả hai bên, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Theo phán quyết, mỗi chị em được hưởng 55,5m² đất; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng bà Th. đối với diện tích tranh chấp bị hủy.

Vụ việc được thể hiện tại Bản án số 293/2023/DS-PT ngày 23/6/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội.

Nguyễn Chiu (tổng hợp)