Trận lũ quét tại biên giới Nepal – Tây Tạng ngày 26/8 bắt nguồn từ một khối băng vỡ đột ngột. Giới khoa học chưa xác định chắc chắn nguyên nhân sâu xa, trong khi thời gian phản ứng của các hệ thống cảnh báo gần như bằng không.
- Thời điểm ăn trứng để hỗ trợ tăng cơ, giảm cân
- Từ 3 lên 4,1 tỷ USD, tài sản bà Phạm Thu Hương thay đổi
- Hải Phòng mở thêm điểm hẹn văn hóa, ẩm thực về đêm
Trận lũ quét xảy ra tại khu vực biên giới Nepal – Trung Quốc hôm 26/8, khi bầu trời quang đãng. Ban đầu, giới chức nhận định động đất 4,4 độ Richter là nguyên nhân. Tuy nhiên, phân tích của Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ được Al Jazeera dẫn lại cho thấy chấn động địa chất là hệ quả của vụ vỡ sông băng và dòng chảy mảnh vụn, không phải nguyên nhân gây thảm họa.
Ông Vikram Gupta, chuyên gia địa chất công trình tại Đại học Sikkim, Ấn Độ, xác nhận một phần lớn “mũi” sông băng đã sụp xuống, kéo theo lượng lớn đá và trầm tích lao vào thung lũng.
Theo Al Jazeera, các sông băng tại Hindu Kush Himalaya, trải dài qua Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Nepal và Pakistan, đang mất băng ngày càng nhanh. Trong giai đoạn 2011-2020, tốc độ mất băng nhanh hơn 65% so với thập kỷ trước.
Tại Nepal, sông băng đã mất gần một phần ba thể tích trong khoảng ba thập kỷ, theo số liệu Liên Hợp Quốc công bố năm 2023.
Ông Dan Shugar, phó giáo sư khoa học Trái đất tại Đại học Calgary, Canada, phân tích ảnh vệ tinh và nhận thấy lượng lớn tuyết tan trong 24 giờ trước thảm họa. Phần dưới sông băng vỡ ra ở độ cao khoảng 5.200 m rồi lao xuống thung lũng cách đó 1.200 m.

Thảm họa này không phải sự cố đầu tiên xảy ra tại Tây Tạng. Năm 2016, một sông băng ở dãy Aru tách rời, cuốn theo khoảng 68 triệu m3 băng và khiến 9 người chăn gia súc thiệt mạng. Hai tháng sau, một sông băng gần đó tiếp tục sụp đổ, giải phóng khoảng 83 triệu m3 băng.
Năm 2018, hai vụ lở băng-đá tại lưu vực Sedongpu từng chặn dòng Yarlung Tsangpo, hình thành hồ chắn nguy hiểm. Kịch bản này có nét tương đồng với diễn biến sau thảm họa mới nhất.
Công nghệ vẫn khó cảnh báo những khối băng sụp đổ bất ngờ
Điểm khó nằm ở sự khác biệt giữa các dạng thảm họa liên quan đến sông băng. Vỡ hồ băng thường để lại dấu hiệu như mực nước dâng bất thường và có thể được vệ tinh phát hiện trước vài ngày. Trong khi đó, các vụ sập băng đột ngột gần như không tạo ra tín hiệu đủ rõ để cảnh báo.
Bà Dorothy Heinrich, nhà nghiên cứu tại Đại học Reading, Anh, cho biết giới khoa học đã hiểu khá rõ những thay đổi tại Himalaya do biến đổi khí hậu. Nắng nóng xuất hiện nhiều hơn, sông băng tan nhanh và tầng đất đóng băng vĩnh cửu suy giảm. Các yếu tố này có thể góp phần kích hoạt lở đất và lũ vỡ băng.
Ông Hatim Sharif, chuyên gia thủy văn tại Đại học Texas San Antonio, Mỹ, cho rằng điều đáng chú ý nhất là không có mưa trước thảm họa. Yếu tố này khiến sự cố vượt khỏi khả năng của gần như mọi hệ thống cảnh báo lũ đang vận hành.
Khi dòng bùn xuất hiện, thời gian để con người phản ứng có thể đã hết. Chạy bộ khó giúp thoát thân, còn phương tiện cũng không đủ nhanh bởi hỗn hợp bùn và nước có thể di chuyển với tốc độ cao, đặc quánh như bê tông lỏng.
Quan trắc trực tiếp cũng gặp nhiều trở ngại. Những sông băng nguy hiểm thường nằm ở địa hình hiểm trở, xa xôi, khiến việc lắp đặt và duy trì thiết bị khó khăn. Vì vậy, giới khoa học vẫn chủ yếu dựa vào ảnh vệ tinh.
Tuy nhiên, vệ tinh dù có thể quan sát biến đổi trên diện rộng vẫn bị giới hạn về thời gian quan sát và xử lý dữ liệu. Một khối băng có thể sụp đổ chỉ trong vài giây, trong khi dữ liệu quan sát không phải lúc nào cũng được truyền đến kịp thời.
Nghịch lý ngày càng rõ: con người có thể theo dõi sông băng từ không gian, nhận diện xu hướng tan băng và biến đổi khí hậu, nhưng vẫn khó xác định chính xác thời điểm một khối băng sẽ đột ngột sụp đổ.
Khi dấu hiệu cảnh báo không xuất hiện, khoảng cách giữa lúc thảm họa bắt đầu và lúc con người nhận ra nguy hiểm có thể chỉ tính bằng giây.
Hồng Sơn (tổng hợp)
