Tại Thái Nguyên, các mô hình du lịch gắn với văn hóa trà và sản phẩm OCOP đang mở thêm hướng khai thác giá trị nông sản, kết nối hoạt động sản xuất với trải nghiệm của du khách.
- Cháy chung cư ở Hà Nội, cư dân hoảng hốt sơ tán lúc sáng sớm
- Khu công nghiệp Hải Phòng bước vào cuộc đua về tiêu chuẩn xanh
- Hegseth xác nhận cắt giảm 20% tướng lĩnh, đô đốc Mỹ
Đến tháng 9/2026, cả nước có hơn 21.000 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, với sự tham gia của hơn 10.000 chủ thể sản xuất. Cùng thời điểm, hơn 600 mô hình du lịch nông thôn đã hình thành, trong đó gần 400 điểm được công nhận, tạo nền tảng để địa phương kết hợp quảng bá đặc sản với giới thiệu văn hóa và đời sống nông nghiệp.
Phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn không chỉ là khai thác cảnh quan hay bán nông sản tại các điểm tham quan. Hướng đi này đòi hỏi sự liên kết giữa sản xuất, tổ chức trải nghiệm, xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm, qua đó giúp người dân có thêm cơ hội tạo thu nhập từ những giá trị sẵn có tại địa phương.
Theo ông Phương Đình Anh, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, sau hơn 8 năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần đáng kể vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Số lượng sản phẩm được công nhận ngày càng tăng, nhưng việc kết nối với hoạt động du lịch vẫn chưa phát huy hết tiềm năng ở nhiều nơi.
Một số sản phẩm OCOP hiện chủ yếu được bày bán tại điểm du lịch như hàng hóa thông thường, chưa khai thác đầy đủ câu chuyện về quy trình sản xuất và văn hóa bản địa. Ở chiều ngược lại, có điểm du lịch còn thiếu sản phẩm địa phương phục vụ nhu cầu mua sắm, trong khi một số cơ sở sản xuất có hàng hóa tốt nhưng chưa đáp ứng điều kiện đón khách.
Để cải thiện tình trạng này, ông Phương Đình Anh cho rằng cần tổ chức cho du khách đến tận nơi sản phẩm được tạo ra, thay vì chỉ đưa hàng hóa đến các điểm tham quan. Cách làm đó có thể giúp người mua hiểu rõ hơn về nguồn gốc, phương thức sản xuất và giá trị văn hóa gắn với từng sản phẩm.
Các cơ sở làm chè, cà phê, nước mắm hay hợp tác xã nông nghiệp có thể xây dựng không gian tham quan, hướng dẫn khách trải nghiệm một số công đoạn sản xuất, thưởng thức thành phẩm và tìm hiểu nghề truyền thống. Muốn vận hành hiệu quả, đơn vị tổ chức cần chuẩn bị khu vực đón khách, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm, đồng thời nâng kỹ năng hướng dẫn, phục vụ và bán hàng.

Tại Thái Nguyên, văn hóa trà đang trở thành một điểm kết nối giữa sản xuất nông nghiệp và du lịch cộng đồng. Những mô hình gắn với sản phẩm trà đạt chuẩn OCOP đã phát triển tại Tân Cương (thành phố Thái Nguyên), La Bằng (huyện Đại Từ) và Tức Tranh (huyện Phú Lương), giúp người dân có thêm nguồn thu từ dịch vụ bên cạnh việc quảng bá, tiêu thụ chè.
Hợp tác xã Chè Hảo Đạt tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên là một ví dụ. Đơn vị có một sản phẩm chè đạt OCOP 5 sao và hai sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao, 4 sao; đồng thời đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng không gian văn hóa trà, tạo cảnh quan để khách thưởng trà, tham quan và chụp ảnh tại nương chè.
Bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã Chè Hảo Đạt, cho biết đơn vị bố trí nhân viên pha trà phục vụ khách hằng ngày, hướng dẫn khách tìm hiểu quá trình chăm sóc, thu hái và chế biến chè. Qua những hoạt động này, du khách có cơ hội hiểu hơn về nghề chè, người làm chè và vùng nguyên liệu Tân Cương, đồng thời góp phần quảng bá, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của hợp tác xã.
Mối liên kết giữa OCOP và du lịch có thể tạo lợi ích theo cả hai chiều. Sản phẩm địa phương đem đến nội dung và trải nghiệm cho các chương trình tham quan, trong khi dòng khách du lịch mở thêm kênh giới thiệu, mua hàng tại chỗ và tiếp cận người tiêu dùng quốc tế ngay tại nơi sản xuất.
PGS, TS Ngô Thị Thu Trang, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định rằng sản phẩm có tiềm năng chưa đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh trên thị trường. Hiệu quả còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức, thiết kế trải nghiệm, bảo đảm chất lượng, liên kết giữa các bên và tiếp cận khách hàng.
Vì vậy, hỗ trợ sản phẩm OCOP cần tiếp tục sau khi sản phẩm được công nhận, tập trung vào duy trì chất lượng, cải thiện mẫu mã, tổ chức hoạt động trải nghiệm và tìm kiếm đầu ra. Việc đánh giá chương trình cũng cần xem xét khả năng tiêu thụ, mức độ hài lòng của khách hàng và thu nhập của người sản xuất, thay vì chỉ dựa trên số lượng sản phẩm đạt sao.
Trong 9 tháng năm 2026, ngành du lịch Việt Nam đón khoảng 17 triệu lượt khách quốc tế, tạo nguồn khách tiềm năng cho các hoạt động du lịch nông nghiệp, nông thôn. Doanh nghiệp lữ hành vì thế cần tham gia từ khâu xây dựng sản phẩm, khảo sát nhu cầu thị trường để lựa chọn những trải nghiệm phù hợp với từng nhóm khách.
Bên cạnh việc tổ chức trải nghiệm, chuyển đổi số giữ vai trò quan trọng trong quảng bá và thương mại hóa sản phẩm OCOP. Thông tin về vùng nguyên liệu, quy trình chế biến, tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm có thể được số hóa qua mã QR để người tiêu dùng thuận tiện truy xuất nguồn gốc.
Việc đưa sản phẩm lên mạng xã hội hoặc sàn thương mại điện tử mới chỉ là bước đầu. Mục tiêu tiếp theo là giúp hàng hóa tiếp cận đúng người mua, tạo đơn hàng thực tế và duy trì thị trường tiêu thụ ổn định.
Theo ông Hoàng Hoa Quân, đại diện Cục Du lịch quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), phát triển du lịch cần có sự gắn kết với kinh tế, giao thông, văn hóa và các chính sách hỗ trợ chủ thể du lịch nông thôn. Sự phối hợp giữa các ngành, cùng việc chuyển từ cách bán nông sản đơn thuần sang tổ chức trải nghiệm văn hóa, được kỳ vọng góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn, hình thành chuỗi giá trị bền vững và cải thiện đời sống người dân.
Nguyễn Chiu (tổng hợp)
