PGS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, chia sẻ vai trò và nguồn thực phẩm chứa các loại vitamin, đồng thời khuyến cáo chỉ dùng vitamin dạng thuốc khi có chỉ định phù hợp.
- Bé trai 17 tháng tuổi bị đánh ở Hải Phòng: Trách nhiệm ở giáo viên
- Xác minh danh tính nữ sinh lớp 11 tử vong trên sông Cầu
- Kiến ba khoang xuất hiện tại khu điều trị nhi, phụ huynh cần cảnh giác
Việc uống vitamin để tăng sức đề kháng, giảm mệt mỏi hay làm đẹp da đang trở thành trào lưu trên mạng xã hội. Tuy nhiên, theo PGS Hiếu, trong đơn thuốc của ông rất ít khi có vitamin, chủ yếu dành cho những trường hợp được xác định thiếu hụt.
Theo PGS Hiếu, dựa trên khả năng hòa tan, vitamin được chia thành hai nhóm. Nhóm tan trong dầu gồm A, D, E và K; nhóm tan trong nước gồm vitamin C cùng các vitamin B1, B2, B3, B5, B6, B7 (biotin), B9 (folate) và B12.
Vitamin tan trong dầu có thể được dự trữ ở gan và mô mỡ. Vì vậy, nếu khẩu phần ăn đã đáp ứng đủ nhu cầu, cơ thể không nhất thiết phải bổ sung nhóm này mỗi ngày. Trong khi đó, phần lớn vitamin tan trong nước không được dự trữ với lượng lớn, ngoại trừ một số loại như B12; lượng dư của nhiều vitamin nhóm này được đào thải qua nước tiểu.
Vitamin B1 (thiamine) tham gia tạo năng lượng, duy trì hoạt động bình thường của tim, cơ và hệ thần kinh. Loại vitamin này có trong bánh mì, ngũ cốc, mì ống tăng cường vi chất, thịt, cá, các loại đậu, đậu nành, đậu Hà Lan và ngũ cốc nguyên hạt.
Vitamin B2 (riboflavin) cần cho thị lực khỏe mạnh và quá trình sản xuất hồng cầu. Thực phẩm cung cấp B2 gồm thịt, trứng, sữa, các loại hạt, đậu, rau lá xanh, bông cải xanh, măng tây và ngũ cốc tăng cường vi chất. Vitamin này có màu vàng, phát huỳnh quang xanh vàng dưới ánh sáng; phần dư được thải qua nước tiểu và có thể khiến nước tiểu chuyển vàng sáng sau khi uống.
Vitamin B3 (niacin) giúp chuyển hóa thức ăn thành năng lượng, đồng thời góp phần duy trì sức khỏe làn da và chức năng thần kinh. Nguồn cung cấp gồm thịt, cá, ngũ cốc và đậu phộng.
Vitamin B6 (pyridoxine) cần thiết cho hoạt động của não, hệ thần kinh và quá trình tạo hồng cầu. Người dùng có thể bổ sung vitamin này từ khoai tây, chuối, đậu, hạt, các loại hạt, thịt, cá, trứng, rau chân vịt và ngũ cốc.
Vitamin B9 (folate) tham gia tạo hồng cầu và ADN. Các nguồn thực phẩm gồm đậu, rau lá xanh, măng tây, trái cây họ cam quýt, gia cầm và ngũ cốc.
Vitamin B12 (cobalamin) hỗ trợ tạo hồng cầu, đồng thời giữ vai trò quan trọng đối với chức năng tế bào thần kinh. Vitamin này có trong thịt, cá, trứng và sữa. Đây là loại vitamin có cấu trúc hóa học phức tạp nhất, chứa cobalt, có màu đỏ tươi và được phân lập từ gan vào năm 1948. Do B12 chỉ hiện diện tự nhiên trong thực phẩm nguồn gốc động vật, người ăn chay trường và người đã cắt dạ dày có nguy cơ thiếu hụt.
Vitamin C (ascorbic acid) giúp cơ thể tạo collagen, củng cố xương và nướu, đồng thời hỗ trợ hấp thu sắt và canxi. Có thể tìm thấy vitamin C trong quả mọng đỏ, kiwi, ớt chuông đỏ hoặc xanh, cà chua, bông cải xanh, rau chân vịt, ổi, bưởi và cam.
Vitamin A có trong gan động vật, lòng đỏ trứng, sữa nguyên kem và cá béo. Tiền vitamin A được tìm thấy ở cà rốt, khoai lang, bí đỏ, xoài, cải bó xôi và rau ngót. Vitamin D có trong cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi, lòng đỏ trứng, gan cá, nấm và sữa tăng cường vitamin D. Cơ thể cũng có thể tạo vitamin D khi da tiếp xúc với ánh nắng.
Vitamin E hiện diện trong các loại dầu hướng dương, đậu nành, ô liu, lạc; ngoài ra còn có trong hạt hướng dương, hạnh nhân, đậu phộng và quả bơ. Với vitamin K, K1 có trong rau lá xanh đậm như cải bó xôi, cải xoăn, bông cải xanh, rau ngót, dầu đậu nành và dầu cải. Vitamin K2 có trong thực phẩm lên men như natto, phô mai, trứng và gan.
PGS Hiếu khuyến nghị người khỏe mạnh, có chế độ ăn đa dạng và cân đối, nên ưu tiên bổ sung vitamin từ thực phẩm hằng ngày. Vitamin dạng thuốc chỉ nên dùng khi có nhu cầu cụ thể, đã xác định thiếu hụt, có nguy cơ thiếu hoặc thuộc nhóm cần bổ sung theo chỉ định chuyên môn.
Nếu chọn sản phẩm bổ sung, người dùng cần kiểm tra kỹ nhãn, thành phần, hàm lượng, nguồn gốc và thông tin nhà sản xuất.
Đức Vinh (tổng hợp)
